Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học

Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học

1. Mục tiêu cuả công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học.

Thực hiện công tác xây dựng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực giảng dạy của GV , tạo điều kiện cho GV có điều kiện được học tập để có nền tảng kiến thức vững chắc, có kỹ năng sư phạm và có sự trau dồi phẩm chất chính trị , đạo đức , lối sống. Mục tiêu cuối cùng của công tác xây dựng đội ngũ là làm thế nào để có một đội ngũ “lành nghề” ,có thể làm tốt công việc giáo dục thế hệ tương lai của đất nước một cách có hiệu quả.

Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học
Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất

2. Nội dung cuả công tác xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học.

-Xây dựng đội ngũ giáo viên đạt trình độ CNNGVTH.

Tiêu chuẩn giáo viên tiểu học phải đạt được bao gồm :

+Về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị

+Về kiến thức

+Về kỹ năng sư phạm Qua các tiêu chuẩn của giáo viên tiểu học , ta thấy người giáo viên tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giảng dạy , cung cấp kiến thức và hình thành nhân cách cho học sinh ở giai đoạn đầu, vai trò của người giáo viên tiểu học phát huy bao nhiêu thì chất lượng giáo dục bậc tiểu học tốt lên bấy nhiêu, tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao chất lượng giáo dục ở bậc học sau.

3. Phương hướng xây dựng đội ngũ giáo viên trường tiểu học.

Để công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có hiệu quả trong nhà trường ,người quản lý cần nắm bắt tình hình đội ngũ , phải tìm những biện pháp thích hợp để xây dựng và phát triển đội ngũ.Trong phạm vi trường học , các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ chính là các biện pháp phát triển nguồn nhân lực của ngành giáo dục . Đào tạo bồi dưỡng thế hệ đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng , có phẩm chất đạo đức cao
quý, trong sạch làm nền tảng cho mỗi cá nhân tự đào tạo , tự rèn luyện và phát triển bản thân . Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trường tiểu học được thể hiện trên các mặt : -Đủ về số lượng và đúng người

-Cơ cấu hợp lý , đồng bộ

-Bố trí đúng người , đúng khả năng

-Phân công đúng việc,đúng lúc

-Làm đúng việc và đạt hiệu quả

-Xây dựng tốt các mối quan hệ cá nhân và quan hệ công việc. Như vậy để xây dựng đội ngũ giáo viên nhà trường cần :

*Nâng cao nhận thức của giáo viên về vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trong trường phổ thông đến giáo viên .

*Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên.Tuyển chọn và sử dụng giáo viên đúng với năng lực và sở trường

*Tăng cường việc đánh giá giáo viên

*Bồi dưỡng giáo viên .

*Tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự thăng tiến của giáo viên

Tham khảo thêm:

Một số nét về đặc điểm tâm sinh lý học sinh Trung học cơ sở

Các yêu cầu cơ bản và nguyên tắc của giáo dục giới tính

Tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu vi phạm hành chính

Tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu vi phạm hành chính

1. Khái niệm vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là những hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật do các chủ thể của luật hành chính thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại tới các quan hệ xã hội do luật hành chính bảo vệ và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu vi phạm hành chính
Tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu vi phạm hành chính

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn Luật hành chính của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2. Các dấu hiệu vi phạm hành chính

– Vi phạm hành chính trước hết là hành vi, nó chỉ được thực hiện bằng hành vi và là hành vi trái pháp luật. Nghĩa là hành vi được thực hiện ngược lại với quy định của pháp luật, có thể là hành động bị pháp luật hành chính cấm hoặc không thực hiện hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện.

Ví dụ: Điều khiển xe phân khối lớn mà không có bằng lái

– Hành vi trái pháp luật hành chính là nguy hiểm cho xã hội nhưng ít nguy hiểm hơn so với vi phạm hình sự (dựa vào tính chất của khách thể bị xâm hại).

– Trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, không nhất thiết phải có dấu hiệu hậu quả có hại của hành vi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Nói cách khác chỉ cần tồn tại dấu hiệu “hình thức” (hành động hay không hành động trái pháp luật).

– Xâm hại tới những quan hệ xã hội do luật hành chính bảo vệ như trật tự nhà nước, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lý.

Ví dụ: Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường.

– Chủ thể thực hiện vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

+ Cá nhân: phải là người có năng lực hành vi.

+ Tổ chức: khi bị xử phạt vi phạm hành chính phải tiến hành xác định lỗi của những người trực tiếp gây ra vi phạm để truy cứu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất.

+ Người nước ngoài, người không có quốc tịch, tổ chức nước ngoai đang sinh sống làm việc trên lãnh thổ Việt Nam khi vi phạm hành chính thì bị xử phạt như đối với công dân hoặc tổ chức theo pháp luật Việt Nam. Nếu thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ thì giải quyết bằng con đường ngoại giao.

– Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi được thực hiện dưới hai hình thức cố ý và vô ý.

3. Đối tượng áp dụng xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác

Xử phạt hành chính được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính bao gồm cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên cac lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với cá nhân, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo. Người từ đủ 16 đến 18 tuổi vi phạm hành chính thì bị áp dụng mọi hình thức xử phạt chính, song mức phạt tiền không quá ½ mức phạt tiền đối với người thành niên; trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải nộp thay.

Các biện pháp xử lý hành chính khác chỉ được áp dụng đối với cá nhân các đối tượng đã nhiều lần bị xử phạt hành chính nhưng vẫn tái phạm, nhằm mục đích giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật và ngăn ngừa khả năng tái phạm ở họ.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

Trình bày khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính

Khái niệm và đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự

Các mặt đạt được về kiểm soát hoạt động chuyển giá

1. Bước đầu đã nhận định được một số cách thức chuyển giá của chi nhánh các MNCs và đưa ra xử lý được một số vụ việc điển hình

Qua các cuộc thanh tra thuế cũng như đấu tranh với hành vi gian lận thuế, cùng với việc học tập, tiếp thu hướng dẫn của các tổ chức quốc tế về kiểm soát chuyển giá, cán bộ ngành thuế đã bước đầu nắm bắt được những cách thức chuyển giá mà nhiều doanh nghiệp FDI tại Việt Nam áp dụng. Ngày càng có nhiều cách thức chuyển giá của chi nhánh các công ty đa quốc gia bị phát hiện và xử lý, bao gồm các hình thức như:

Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động chuyển giá của Anh
Nguyên nhân của hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia
Chuyển giá của doanh nghiệp FDI
Hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay
Lý thuyết Modigliani và Miller (M&M)
Chuyển giá qua nâng khống giá trị tài sản khi thành lập liên doanh. Dấu hiệu: liên doanh sau khi thành lập thường hoạt động thua lỗ kéo dài, chi phí khấu hao lớn và sớm chuyển từ hình thức liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Chuyển giá bằng cách nâng khống giá trị tài sản vô hình. Dấu hiệu là các chi phí như tiền bản quyền, tiền nhượng quyền thương mại và các chi phí tư vấn, chi phí chuyên gia trả cho công ty mẹ thường ở mức cao
Chuyển giá qua việc mua bán nguyên vật liệu không theo giá thị trường. Dấu hiệu: nguyên vật liệu mà chi nhánh sử dụng phần lớn có nguồn gốc từ công ty mẹ hoặc bên có quan hệ liên kết
Chuyển giá qua việc định giá chuyển giao thấp. Dấu hiệu: hàng hóa bán cho bên có quan hệ liên kết có giá thấp hơn giá thị trường, trong một số trường hợp còn thấp hơn giá vốn hàng bán
Chuyển giá qua chi phí tài chính. Dấu hiệu: chi phí vay vốn của chi nhánh ở mức cao, cơ cấu vốn nghiêng nhiều về phía nợ; nguồn vốn vay chủ yếu đến từ công ty mẹ hoặc bên có quan hệ liên kết; chi phí vay nợ nước ngoài cao hơn vay nợ trong nước
Chuyển giá qua việc thực hiện các chiến lược khuyến mãi, đẩy cao chi phí quảng cáo. Dấu hiệu: doanh nghiệp nâng cao các chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm quảng bá sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường, chấp nhận lỗ trong thời kỳ đầu để sau đó hoàn toàn chi phối thị trường.
Cùng với đó, rất nhiều các vụ việc chuyển giá của chi nhánh các MNCs lớn trên thế giới trong thời gian qua cũng đã bị cơ quan thuế Việt Nam phát hiện và xử lý. Điều này thể hiện nỗ lực rất lớn của ngành thuế Việt Nam trong việc kiểm soát chuyển giá và đấu tranh với các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới. Có thể kể tới các vụ việc của các MNCs như: Keangnam; Metro hay Coca Cola là những trường hợp điển hình nhất.

2. Hành lang pháp lý cho việc kiểm soát hoạt động chuyển giá đang ngày càng được hoàn thiện

Trong 5 năm gần đây về cơ bản hệ thống pháp lý hiện nay đã đáp ứng được phần nào yêu cầu công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp FDI, đảm bảo công tác quản lý thuế phù hợp với các quy định quốc tế vì việc xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết được dựa trên hướng dẫn của OECD, có tính đến thực tiễn quản lý thuế ở Việt Nam. Có thể kể đến những văn bản nền tảng sau đây:

Nghị định 20/2017/NĐ – CP và Thông tư 41/2017/TT – BTC được đánh giá là có nhiều bước đột phá so với Thông tư 66/TT – BTC; được xây dựng sát với những khuyến nghị của OECD, vừa giúp cơ quan thuế có công cụ hữu hiệu trong đấu tranh, đồng thời giúp các doanh nghiệp FDI dễ dàng hơn trong việc lựa chọn áp dụng phương pháp tính giá cho giao dịch với bên liên kết với việc quy định rõ ràng các phương pháp xác định, đối tượng xác định cũng như từng trường hợp cụ thể áp dụng phương pháp xác định giá.
Bảng 1: Sự thay đổi các hướng dẫn kiểm soát chuyển giá

Quy định Thông tư 74/TC – TCT Thông tư 89/1999/TT – BTC Thông tư 13/2001/TT – BTC Thông tư 128/2003/TT – BTC Thông tư 117/2005/TT – BTC Thông tư 66/2010/TT – BTC Nghị định 20/NĐ – CP và Thông tư 41/2017/TT – BTC
Về quy định đối tượng liên kết 2 tiêu chí 2 tiêu chí 2 tiêu chí Không quy định 3 tiêu chí lớn và 14 tiêu chí nhỏ 3 tiêu chí lớn và 15 tiêu chí nhỏ 2 tiêu chí lớn và 10 tiêu chí nhỏ
Phương pháp kiểm soát chuyển giá 3 phương pháp xác định giá thị trường 3 phương pháp xác định giá thị trường 3 phương pháp xác định giá thị trường Không quy định 5 phương pháp xác định giá thị trường 5 phương pháp xác định giá thị trường 3 phương pháp, trong đó 1 phương pháp được hướng dẫn thành 3 phương pháp nhỏ
(Nguồn: Nghiên cứu sinh thống kê từ các văn bản pháp luật)

Thông tư 201/2013/TT – BTC hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng APA trong quản lý thuế. Thông tư này đã cụ thể về phương pháp thỏa thuận trước về giá, phù hợp với xu hướng hiện nay trên thế giới là thực hiện đàm phán về giá chuyển nhượng. Điều này vừa giúp cho ngành Thuế giảm thuể thời gian phải tiến hành thanh tra thuế, đồng thời cũng giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc xác định giá chuyển nhượng cho bên liên kết sao cho hợp lý và được cơ quan thuế chấp nhận. Đồng thời, với APA song phương và đa phương còn cho phép cơ quan thuế các nước xây dựng mối liên hệ gắn bó hơn, cùng chia sẻ thông tin nhằm kiểm soát có hiệu quả hơn hoạt động chuyển giá của các MNCs.
Việt Nam cũng đã xây dựng được Chương trình chiến lược về kiểm soát chuyển giá; xây dựng được các chuyên đề kiểm soát giá chuyển nhượng đối với một số nhóm mặt hàng trọng tâm. Đồng thời, cơ quan thuế cũng đang nghiên cứu thực hiện việc xây dựng tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành như là một cơ sở để thực hiện các phương pháp giá thị trường cho giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết.

3. Hợp tác quốc tế về thuế có nhiều chuyển biến tích cực

Trong công tác kiểm soát chuyển giá, Việt Nam đã tham khảo các hướng dẫn và quy định của OECD dù Việt Nam chưa phải là thành viên của tổ chức này. Các hướng dẫn và quy định về chuyển giá của OECD mang tính chất phổ biến và áp dụng rộng rãi ở rất nhiều quốc gia, đặc biệt ở các quốc gia phát triển – nơi hoạt động chuyển giá của các MNCs diễn ra hết sức tinh vi. Gần đây, Việt Nam đã và đang tích cực nghiên cứu để áp dụng Khuyến nghị của Liên hiệp quốc về chuyển giá dành cho các nước đang phát triển. Khuyến nghị này được nhiều chuyên gia đánh giá là có tính hữu dụng và đem lại lợi ích nhiều hơn trong cuộc đấu tranh kiểm soát chuyển giá với các MNCs. Việc xây dựng các Thông tư hướng dẫn phù hợp với tiêu chuẩn của OECD hay Liên hiệp quốc chắc chắn sẽ tương thích và tạo điều kiện thuận lợi cho các MNCs hiểu đúng và tuân thủ pháp luật Việt Nam.

4. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá đang dần được chuẩn hóa

Nếu như thời điểm trước 2010 chỉ có một số các chuyên gia và cán bộ Thuế hiểu được, nắm được thế nào là chuyển giá, các hình thức chuyển giá cũng như các phương thức xác định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết thì hiện nay, chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm soát chuyển giá đã được nâng cao. Tổng cục Thuế đã rất chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra chuyển giá. Hàng năm, Tổng cục Thuế cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về chuyển giá củ Trường Bồi dưỡng cán bộ Bộ Tài chính; đồng thời Trường Nghiệp vụ Thuế cũng đã tổ chức các khóa học về kiểm tra, thanh tra giá chuyển nhượng. Nhờ quan tâm đến đào tạo cán bộ nên đội ngũ cán bộ thuế làm công tác thanh tra, kiểm tra chuyển giá ngày càng được trang bị kiến thức chuyên sâu, chuyên nghiệp và dần dần có kỹ năng quản lý thuế hiện đại. Khả năng phân tích, đánh giá và kỹ năng sử dụng máy tính để tính toán và xử lý các vấn đề phát sinh ngày một cải thiện. Chất lượng cán bộ cải thiện nên kết quả các cuộc thanh tra thuế của cơ quan thuế, khả năng phát hiện sai phạm của cán bộ thuế cũng có kết quả tốt, số truy thu tăng lên.

5. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác kiểm soát chuyển giá dần được cải thiện

Tổng cục Thuế đã có nhiều nỗ lực nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác kiểm soát chuyển giá. Năm 2012 Tổ chuyên trách quản lý thuế với 23 thành viên (Tổng cục 19, Cục thuế Hà Nội 02, Cục thuế TP.Hồ Chí Minh 02) đã được thành lập, được trang bị cơ sở làm việc, trang thiết bị hiện đại. Trên cơ sở đó, năm 2015 đã được nâng cấp thành Phòng Thanh tra giá chuyển nhượng ở Tổng cục và 04 Cục thuế địa phương. Tổng cục cũng đã từng bước chú trọng đến việc xây dựng hệ thống thông tin người nộp thuế, đồng thời từng bước phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc phân tích, tổng hợp, khai thác thông tin.

Xem thêm:

Khái niệm ý thức pháp luật và Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật

Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật

1. Khái niệm ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là một trong những biểu hiện của trình độ văn hóa xã hội. Có thể định nghĩa ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, tình cảm của con người thể hiện thái độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong cách xử sự của con người, trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức.

Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng về mặt nội dung ý thức pháp luật được cấu thành từ hai bộ phận: tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.

Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật
Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn cao học ngành Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

Tư tưởng pháp luật

Tư tưởng pháp luật là tổng thể những tư tưởng, quan điểm, phạm trù, khái niệm, học thuyết về pháp luật, tức là mọi vấn đề lý luận về pháp luật, về thượng tầng kiến trúc pháp lý của xã hội.

Tâm lý pháp luật

Tâm lý pháp thuật được thể hiện qua thái độ, tình cảm, tâm trạng, xúc cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác, được hình thành một cách tự phát thông qua giao tiếp và dưới tác động của các hiện tượng pháp lý, là phản ứng trực tiếp và ở cấp độ đầu tiên, phản ứng một cách tự nhiên của con người đối với các hiện tượng đó.

Tư tưởng pháp luật

Tư tưởng pháp luật là bộ phận tiên tiến của ý thức pháp luật, có thể vượt lên trước, định hướng cho sự phát triển của pháp luật. Còn tâm lý pháp luật là bộ phận bảo thủ, bền vững hơn, biến đổi chậm chạp vì gắn bó chặt chẽ với thói quen, truyền thống, tập quán xã hội. Nhưng hai bộ phận cũng có quan hệ biện chứng, phụ thuộc vào nhau hoặc là tiền đề của nhau.

– Ngoài ra, theo chủ thể của ý thức pháp luật ta thấy ý thức pháp luật được cấu thành từ ba bộ phận: ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật xã hội.

Ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật xã hội có cơ sở là ý thức pháp luật cá nhân, nhưng không nên hiểu một cách máy móc rằng hai dạng ý thức pháp luật nói trên là tổng thể nhãng ý thức pháp luật cá nhân.

Ý thức pháp luật nhóm là ý thức pháp luật của đại đa số cá nhân của nhóm, có những đặc trưng đại diện cho nhóm, ví dụ ý thức pháp luật của nông dân, công nhân, trí thức, của học sinh phổ thông, sinh viên…

Còn ý thức pháp luật xã hội được hiểu là ý thức pháp luật của giai cấp và những tầng lớp nắm quyền lãnh đạo xã hội, đại diện cho cả xã hội, ví dụ: ý thức pháp luật tư sản, ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa…Trọng một xã hội đương nhiên có thể xó những ý thức pháp luật nhóm có nội dung khác nhau. Ví dụ: ý thức pháp luật của giai cấp vô sản khác với ý thức pháp luật của giai cấp tư sản. Mặt khác, ý thức pháp luật xã hội không phải lúc nào cũng đồng nhất với ý thức pháp luật của giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội đó, ví dụ, trong xã hội tư sản thì ý thức pháp luật của giai cấp vô sản mới là ý thức pháp luật tiên tiến chứ không phải là ý thức pháp luật của giai cấp tư sản.

– Theo tính chất và mức độ nhận thức ta có thể chia ý thức pháp luật thành hai bộ phận: ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật mang tính lý luận… Bộ phận thứ nhất là bao gồm ý thức pháp luật của những người không có trình độ khoa học pháp lý, bộ phận thứ hai là ý thức pháp luật của những luật gia, những nhà làm luật…

2. Quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật

Mối quan hệ này thể hiện qua ba kênh chủ yếu sau:

Ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng pháp luật

Nếu những người có nhiệm vụ trực tiếp sọan thảo và ban hành pháp luật và công dân – những người được hỏi ý kiến hoặc được tham gia hoạt động xây dựng pháp luật, đều có tư tưởng pháp luật đúng đắn thì đương nhiên sẽ ban hành được pháp luật tốt; hoặc ngược lại.

Ý thức pháp luật là cơ sở cho sự thực hiện pháp luật

Hai là, ý thức pháp luật là cơ sở cho sự thực hiện pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật. Bởi vì, mọi chủ thể, nếu có tư tưởng pháp luật tiên tiến và thái độ, tình cảm (tâm lý) đúng đối với pháp luật, sẽ tự giác và biết chấp hành tốt pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền biết áp dụng các quy định của pháp luật vào các trường hợp cụ thể phù hợp với yêu cầu của pháp chế, phát huy hết hiệu quả của quy phạm đó. Nếu ngược lại thì chúng ta sẽ thấy tình trạng vi phạm pháp luật gia tăng, kỷ cương và pháp chế bị buông lỏng, pháp luật trở nên vô hiệu.

Pháp luật cũng tác động ngược trở lại tới ý thức pháp luật.

Ba là, pháp luật cũng tác động ngược trở lại tới ý thức pháp luật. Bản thân pháp luật được xây dựng tốt sẽ chứa đựng trong đó những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc pháp lý tiên tiến của ý thức pháp luật tiên tiến trong xã hội, những giá trị xã hội cao quý như chủ nghĩa nhân đạo, lẽ công bằng, tự do, bác ái và từ đó, với tư cách là công cụ quản lý có tính bắt buộc chung, nó lan truyền rộng rãi thông qua không chỉ sự tuyên truyền, giải thích pháp luật mà cả hoạt động áp dụng, thực hiện đúng đắn pháp luật, là phương tiện truyền bá hiệu quả ý thức pháp luật xã hội tiên tiến tới từng cá nhân, nâng tầm ý thức pháp luật cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật xã hội.

Tham khảo thêm các bài viết khác:

Khái niệm, đặc điểm và phân loại của văn bản quy phạm pháp luật

Trình bày những nội dung cơ bản của chế định chế độ chính trị

Mục lục và lời mở đầu đề tài luận văn marketing địa phương

Chi tiết mục lục luận văn Marketing địa phương

LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………………………2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING ĐỊA PHƯƠNG…….3

1.1. Khái niệm marketing và marketing địa phương……………………………..3

1.1.1. Những khái niệm cốt lõi của marketing………………………………….3

1.1.2. Marketing địa phương………………………………………………………….9

1.2. Quy trình marketing địa phương………………………………………………..11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MARKETING ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY –

SỰ CẦN THIẾT PHẢI MARKETING ĐỊA PHƯƠNG………………………….17

2.1. Chính sách thu hút đầu tư ở các địa phương hiện nay……………………17

2.2. Các nhà đầu tư mong muốn gì từ địa phương?…………………………….21

2.3. Marketing địa phương mang lại lợi ích gì?………………………………….22

CHƯƠNG III: ĐỊA PHƯƠNG LÀM GÌ ĐỂ MARKETING ĐỊA PHƯƠNG

CỦA MÌNH?…………………………………………………………………………………….25

3.1. Môi trường đầu tư………………………………………………………………..25

3.2. Nguồn nhân lực……………………………………………………………………26

3.3. Cơ sở hạ tầng……………………………………………………………………….27

KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………28

Lời mở đầu luận văn marketing địa phương

Trong thời đại ngày nay, hoạt động Marketing không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp, một ngành nghề, hay một lĩnh vực hoặc sản phẩm nào đó, mà nó đang đuợc phát triển ngày càng tăng mạnh mẽ trong phạm vi một vùng, khu vực, địa phương và quốc gia.

Các địa phương ngày nay phải tự thân vận động như một doanh nghiệp theo định hướng thị trường. Các nhà lãnh đạo cần biết xây dựng địa phương mình thành một sản phẩm hấp dẫn, đồng thời cần biết cách quảng bá các nét đặt thù của “sản phẩm” này một cách hiệu quả đến các thị trường mục tiêu của mình.

Chiến lược Marketing đòi hỏi địa phương không chỉ nắm vững nhu cầu của khách hàng mà còn hiểu biết sâu sắc các quy trình ra quyết định của khách hàng để có giải pháp thích hợp thu hút khách hàng về với địa phương.

Marketing ở đây được hiểu với ý nghĩa rộng nhất. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các nhà nhập khẩu, các cư dân, khách du lịch, các tổ chức chỉ đến những nơi chào mời đúng cái mà họ cần.

“Tương lai phát triển các địa phương không tùy thuộc vào vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên. Tương lai phát triển của địa phương tùy thuộc vào chuyên môn, kỹ năng đóng góp, phẩm chất của con người và tổ chức tại địa phương” (Philip Kotler).

Xuất phát từ nhận thức như trên, em quyết định chọn đề tài “Sự cần thiết của marketing địa phương trong việc thu hút đầu tư tại các địa phương ở Việt Nam hiện nay”. Do sự hạn chế trong kiến thức và kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Mong cô giáo có những ý kiến đóng góp để cho đề tài này được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Xem thêm:

Các quan niệm về giáo dục tiểu học hiện nay

Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội , chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một chế độ xã hội nào giáo dục cũng có vai trò quan trọng , quyết định sự phát triển toàn diện của con người cũng như sự phát triển bền vững của một quốc gia:

1. Quan niệm về giáo dục tiểu học ở các nước

-Ở Thái Lan , xác định giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 11 tuổi. Họ đã cải cách công tác đánh giá giáo viên . Hội đồng Bộ trưởng Văn phòng Cải cách đào tạo giáo viên được thành lập , qua kế hoạch phát triển giáo viên đã đánh giá toàn bộ hệ thống đào tạo giáo viên và nhằm cập nhật những kỹ năng giảng dạy. Điều này có thể nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ giáo viên tiểu học là những con người ưu tú.

– Ở Nhật Bản ,họ đã cải cách nhiều lần theo hướng hiện đại hóa và nhân văn hóa , nên nước Nhật là quốc gia luôn được xếp vào những nước hàng đầu về chất lượng và hiệu quả giáo dục.

– Ở nước ta trong điều 11 ,Luật Giáo dục 2005 có nêu “Giáo dục tiểu học là cấp học phổ cập nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục , bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập trong cả nước “.

– Điều 2 Luật phổ cập giáo dục chỉ rõ : “ Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân , có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm , đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Các quan niệm về giáo dục tiểu học hiện nay
Các quan niệm về giáo dục tiểu học hiện nay

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn cao học về Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2. Những quan niệm khác nhau về khái niệm giáo dục tiểu học

Giáo dục Tiểu học( Primary Education) đã có lịch sử phát triển rất lâu trên thế giới , nhưng cho đến nay vẫn có những quan điểm khác nhau về khái niệm giáo dục tiểu học .

– Quan niệm thứ nhất:

Coi bậc tiểu học là bậc học cơ sở nhằm chuẩn bị cho số đông trẻ em ra trường tham gia lao động sản xuất , học nghề , hoặc tiếp lên trung học . hết cấp I đã “phân luồng” học sinh. Số học sinh năm học cấp I ở các nước theo quan niệm này kéo dài thường từ 7 đến 8 năm. Trong các nước này , có nước lại chia thời kỳ tiểu học thành 2 giai đọan : bậc dưới (Lower Primary) và bậc trên (Upper Primary).

– Quan niệm thứ hai :

Đa số các nước (kể cả các nước đang phát triển) đã có truyền thống giáo dục lâu đời như Pháp , Nhật ,v.v…Cho đến nay vẫn coi tiểu học là bậc học vừa chuẩn bị cho một bộ phận học sinh ra trường tham gia sản xuất , vừa chuẩn bị cho một bộ phận học sinh học tiếp lên. Tùy điều kiện và truyền thống của mỗi nước mà số năm học tiểu học 5 hoặc 6 năm.

– Quan niệm thứ ba:

Một số nước coi tiểu học là cấp học thuần túy , cấp học chuẩn bị cho toàn bộ học sinh học tiếp lên . Họ đã tuyên bố hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học . Vì lẽ đó không cần dạy những nội dung có tính hoàn chỉnh , do đó thời gian dành cho tiểu học chỉ có 3 hoặc 4 năm .

Bậc tiểu học trên thế giới có nước hoàn thành trong 5 năm có nước 6 năm. Mục tiêu chung của trường tiểu học là truyền thụ cho tất cả học sinh những cơ sở ban đầu để tiếp tục giáo dục ở bậc học trên.Như vậy trường tiểu học phấn đấu thúc đẩy sự phát triển nhân cách của trẻ , khơi gợi những năng lực tiềm ẩn ,khơi dậy những hứng thú và năng lực như tưởng tượng , sáng kiến, tự lập và hợp tác xã hội , tăng cường niềm vui học tập.

Ở nước ta , mục 2, giáo dục phổ thông , điều 26 Luật Giáo dục 2005 có nêu :

– Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi. Một số trường hợp từ 7,8 tuổi.

Tóm lại , giáo dục Tiểu học ở đa số các nước ,dù có những quan niệm khác nhau , vẫn là một bậc học , phản ánh trình độ học vấn của một bộ phận dân cư, thậm chí của số đông dân cư ở một vùng lãnh thổ hay một số vùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và hệ thống giáo dục phổ thông nói riêng.

Tham khảo thêm:

5 Khuyến nghị phát triển Giáo dục mần non ở nước ta

4 Chính sách mới về giáo dục có hiệu lực từ tháng 9 năm 2014

Chiến lược marketing 5P sẽ thay thế cho marketing 4P

Marketing 4P truyền thống đã quá quen thuộc với các marketer. Tuy nhiên theo khảo sát người tiêu dùng đầu năm 2018, Kantar Retail nhận thấy có 71% người tham gia khảo sát cho biết các chương trình khuyến mãi không làm họ gắn bó với thương hiệu. Thay vào đó, khách hàng có xu hướng mua hàng từ những thương hiệu có liên quan mật thiết đến nhu cầu của họ ở từng thời điểm nhất định.

Các chuyên gia marketing đã khẳng định cần thay thế chiến lược marketing 4P truyền thống thành chiến lược marketing 5P – tập trung vào yếu tố gắn kết với nhu cầu của người tiêu dùng. Hãy cùng MarketingAI tìm hiểu rõ hơn về chiến lược marketing 5P trong bài viết để hiểu hơn lý do tại sao đã đến lúc doanh nghiệp cần cân nhắc thay thế chiến lược marketing 4P truyền thống.

Sự cần thiết của việc kết nối với khách hàng

Theo nghiên cứu của công ty tư vấn kinh doanh Accenture, doanh nghiệp Mỹ đang lãng phí khoảng 1 triệu tỷ USD doanh thu thường niên do không tạo được sự gắn kết với khách hàng. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tương lai của marketing có liên quan mật thiết đến nhu cầu của khách hàng ở từng thời điểm. Các công ty cần xây dựng và củng cố mối quan hệ cộng sinh với khách hàng như những người trợ lý, người bạn thân thiết của họ.

Marketing 5P: Định nghĩa mới về sự gắn kết

Để doanh nghiệp thực sự làm bạn với khách hàng, bạn cần thay đổi cách hiểu về sự gắn kết. Và tháp nhu cầu của Abraham Maslow là một lý thuyết tham khảo phù hợp. Bên cạnh sơ đồ hóa nhu cầu tâm lý và động lực của con người, Tháp Maslow cũng mở ra một mô hình tư duy mới về chiến lược marketing.

Mô hình marketing 4P truyền thống đặt trọng tâm ở 4 yếu tố: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Place (địa điểm) và Promotion (hậu mãi). Vấn đề là khi áp dụng chiến lược 4P, doanh nghiệp thường hình dung khách hàng mục tiêu theo một hình mẫu tĩnh (ví dụ: nhóm khách hàng tân tiến muốn ủng hộ các siêu thị xanh hoặc các khách hàng chỉ quan tâm đến giảm giá).

Trên thực tế, tâm lý của khách hàng không đơn giản như vậy, vì nhu cầu của mỗi người luôn thay đổi theo thời gian lẫn hoàn cảnh sống. Khách hàng ngày càng kỳ vọng vào các trải nghiệm mà doanh nghiệp tạo ra, cùng với các hoạt động marketing truyền thống.

Theo HBR, giải pháp hiện tại nằm ở mô hình marketing 5P, phát triển trên nền tảng của Tháp Maslow, gồm 5 yếu tố: Purpose (mục đích), Pride (niềm tự hào), Partnership (đối tác), Protection (bảo vệ), và Personalization (cá nhân hóa).

5 yếu tố này khi được kết hợp chặt chẽ, sẽ tạo nên gắn kết bền vững giữa doanh nghiệp và khách hàng. Cụ thể:

Purpose (Mục đích): Khách hàng cảm thấy được công ty hỗ trợ giải quyết một vấn đề cá nhân, hoặc nâng cấp giá trị của bản thân.

Pride (Niềm tự hào): Khách hàng cảm thấy hãnh diện và được truyền cảm hứng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ của công ty.

Partnership (Đối tác): Khách hàng cảm thấy công ty gần gũi và hợp tác tốt với họ

Protection (Bảo vệ): Khách hàng cảm thấy yên tâm khi hợp tác với công ty

Personalization (Cá nhân hóa): Khách hàng cảm thấy trải nghiệm của bản thân với công ty liên tục được”may đo” theo nhu cầu và mối quan tâm của họ.

Các doanh nghiệp đã vận dụng chiến lược marketing 5P như thế nào?

Trong chiến lược marketing 5P, việc tận dụng và phát huy mỗi yếu tố sẽ là điểm nhấn đặc biệt tạo nên sự thành công của chiến dịch arketing cho doanh nghiệp. Hãy cùng tìm hiểu bài học áp dụng marketing 5P từ các doanh nghiệp.

Chiến lược 5P giúp The Coffee House thành công nhờ Customer Insight

Soul Cycle ứng dụng marketing 5P vào hoạt động kinh doanh.

Với mục đích thúc đẩy lối sống khỏe mạnh, tích cực cho người tiêu dùng, Soul Cycle đã tạo ra một cộng đồng kết nối những người yêu thích đạp xe trong nhà lẫn tập thể hình thông qua dịch vụ phòng gym của họ.

Bằng cách nhấn mạnh vào giá trị sống khỏe, Soul Cycle đã tạo nên được cảm giác tự hào cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ tập thể hình cao cấp (thể hiện qua phân khúc giá và đội ngũ huấn luyện viên trẻ, khỏe của Soul Cycle). Khách hàng cũng cảm thấy đang yêu thương bản thân khi sử dụng phòng tập thể hình mới, sạch sẽ, phòng thay đồ cao cấp cùng danh sách phát nhạc riêng trên Spotify của SoulCycle. Tuy mức giá ở Soul Cycle cao hơn các phòng gym truyền thống, song người tiêu dùng vẫn chấp nhận vì họ được đội ngũ nhân viên SoulCycle tận tình hỗ trợ, tư vấn cách tập luyện hiệu quả nhất mỗi khi đến phòng tập.

Tất cả những yếu tố trên đã biến SoulCycle trở thành người bạn truyền cảm hứng để khách hàng sống tốt hơn.

Nhân tố Pride và thương hiệu Yoplait

Yoplait, thương hiệu yogurt toàn cầu do “gã khổng lồ” General Mills sở hữu, là doanh nghiệp đã thành công với cách thức dùng các ưu đãi để thu hút khách hàng. Gần đây, Yoplait đã quyết định thử một con đường khác. Cụ thể, Yoplait triển khai chiến lược content marketing tập trung vào dòng sản phẩm yogurt truyền thống, gắn liền với văn hóa địa phương, thay vì sản xuất hàng loạt.

Chiến dịch này bắt đầu khi Yoplait nhận ra người tiêu dùng thường thấy tự hào khi sử dụng các sản phẩm liên quan đến truyền thống ẩm thực đặc sắc của từng quốc gia – bất kể là dầu olive của Ý, hay yogurt của Hy Lạp. Tại châu Âu, Pháp là một trong những quốc gia có lịch sử sản xuất yogurt lâu đời. Vì vậy Yoplait đã tạo ra dòng sản phẩm yogurt làm theo cách truyền thống của Pháp, đựng trong lọ thủy tinh với tên gọi bằng tiếng Pháp. Để gia tăng cảm giác tự hào của người mua, dòng sản phẩm yogurt Pháp “Oui” của General Mills được quảng bá là sản phẩm hoàn toàn tự nhiên, không có GMO, với danh sách nguyên liệu rất đơn giản

Kết luận

Ngày nay, công nghệ mở ra nhiều cách thức để người tiêu dùng có thể đánh giá liên tục các quyết định chi tiêu của mình. Họ sẽ chọn những thương hiệu liên quan nhiều nhất đến nhu cầu của bản thân, và sẵn sàng trả tiền nhiều hơn để có trải nghiệm tốt hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp cần thoát khỏi lối tư duy giảm giá truyền thống để tạo ra được các kết nối hữu ích, liên tục với khách hàng. Vận dụng marketing 5P kết hợp cùng marketing 4P truyền thống chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp thành công trong thời gian tới.

Xem thêm:

Các kiểu và hình thức của nhà nước

Các kiểu và hình thức của nhà nước

1. Kiểu nhà nước

Nhà nước là thực thể xã hội tồn tại trong lịch sử, dưới hình thái kinh tế xã hội nhất định. Do vậy, dựa trên nội dung của phạm trù hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết Mác- Lênin đã phân chia các nhà nước trong lịch sử thành các kiểu khác nhau.

Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, vai trò xã hội, những điều kiện, phát sinh, tồn tại và phát triển của nhà nước trong hình thái kinh tế-xã hội nhất định.

Trong lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lí đã có những cách khác nhau trong việc phân chia các kiểu nhà nước. Tuy nhiên, học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế – xã hội đem lại cơ sở khoa học để phân biệt các kiểu nhà nước trong lịch sử.

Các kiểu và hình thức của nhà nước
Các kiểu và hình thức của nhà nước

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn cao học ngành Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

Mỗi hình thái – kinh tế xã hội là một kiểu tổ chức đời sống xã hội tương ứng với một phương thức sản xuất nhất định. Từ khi phân chia thành các giai cấp đến nat, xã hội loài người đã và đang trải qua bốn hình thái kinh tế – xã hội là chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và XHCN. Trong các hình thái kinh tế – xã hội đó, nhà nước – yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển dựa trên và phù hợp với bản chất, đặc điểm của mỗi cơ sở hạ tầng nhất định là các quan hệ sản xuất trong mỗi phương thức sản xuất tương ứng. Theo các hình thái kinh tế – xã hội đã nêu, có bốn kiểu nhà nước là:

– Nhà nước chủ nô;

– Nhà nước phong kiến;

– Nhà nước tư sản;

– Nhà nước XHCN.

Nhà nước là bộ phận quan trọng nhấ trong kiến trúc thượng tầng xã hội, khi hạ tầng cơ sở thay đổi, các quan hệ kinh tế mới tiến bộ hơn thay thế các quan hệ kinh tế cũ đã lạc hậu, kéo theo sự thay đổi kiểu nhà nước thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, sự thay thế các kiểu nhà nước trong lịch sử gắn liền và là biểu hiện của sự thay đổi các hình thái kinh tế – xã hội.

Trong bốn kiểu nhà nước nêu trên, các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản đều dựa trên nền tảng kinh tế là chế độ người bóc lột người đồng thời phục vụ và bảo vệ chế độ đó nên người ta gọi kiểu nhà nước bóc lột.

Nhà nước XHCN dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất nên có bản chất khác hẳn, nó bảo vệvà phục vụ cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao động gồm giai cấp công nhân, nông dân và đọi ngũ trí thức.

2. Hình thức nhà nước

a. Khái niệm hình thức nhà nước:

Hình thức nhà nước là sự biểu hiện ra bên ngoài của việc tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi kiểu nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Hình thức nhà nước do bản chất và nội dung của nhà nước quy định.

b. Phân loại hình thức nhà nước:

Có 2 loại hình thức chính thể và hình thức cấu trúc:

– Hình thức chính thể: là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự và mối quan hệ giữa chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản là:

+ Chính thể quân chủ: quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ hay phần lớn trong tay người đứng đầu nhà nước (Vua, Hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế.

+ Chính thể cộng hòa: quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện do dân bầu ra trong một thời gian nhất định.

– Hình thức cấu trúc: là sự tổ chức nhà nước theo các đơn vị hành chính – lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương.
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu đó là:

+ Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất Các bộ phận hợp thành nhà nước là các đơn vị hành chính lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia và các đặc điểm khác của nhà nước; đồng thời nó có hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương.

Ví dụ: Nhà nước Việt Nam, Lào, Trung Quốc…

+ Nhà nước liên bang: do nhiều nhà nước hợp lại. Trong nhà nước liên bang thì không chỉ liên bang có dấu hiệu của nhà nước mà các nhà nước thành viên cũng có. Có hai hệ thống cơ quan nhà nước và hai hệ thống pháp luật của chung liên bang và từng nhà nước thành viên.

Ví dụ: Nhà nước liên bang Mỹ, Malaixia, Braxin…

+ Ngoài ra có một loại hành nhà nước khác nữa là Nhà nước liên minh – chỉ là sự liên kết tạm thời của các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nhất định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục đích rồi thì nhà nước liên minh tự giải tán, cũng có trường hợp nó phát triển thành nhà nước liên bang.

Ví dụ: Từ năm 1776 đến 1787 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên minh sau đó phát triển thành nhà nước liên bang.

c. Chế độ chính trị

Là toàn bộ các phương pháp, cách thức, phương tiện mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Nói cách khác, chế độ chính trị là phương pháp cai trị và quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị nhất định. Chế độ chính trị quan hệ chặt chẽ với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của nhà nước và các điều kiện khác về kinh tế, chính trị – xã hội, thể hiện mức độ dân chủ trong một nhà nước.

Từ khi nhà nước xuất hiện cho tới nay các giai cấp cầm quyền đã sử dụng nhiều phương pháp cai trị khác nhau nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính là phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ. Tương ứng với 2 phương pháp ấy là 2 chế độ nhà nước:

– Chế độ dân chủ: tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được đảm bảo trong thực tế bằng việc được pháp luật bảo vệ. Công dân được tham gia vào việc xây dựng nhà nước, tham gia quản lý và giải quyết những công việc hệ trọng của nhà nước.

Ví dụ: chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân chủ qúy tộc phong kiến, chế độ dân chủ tư sản.

– Chế độ phản dân chủ: chà đạp lên quyền tự do dân chủ của công dân.

Ví dụ: chế độ độc tài chuyên chế chủ nô, chế độ độc tài chuyên chế phong kiến, chế độ độc tài phát xít tư sản.

Tham khảo thêm:

Trình bày bản chất của nhà nước CHXHCN Việt Nam

Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam

Sự quan trọng của hình ảnh trong marketing

Trong Kinh doanh Online, khi người dùng thực hiện hành vi “Shopping tại nhà” thì hình ảnh sản phẩm giữ vai trò vô cùng quan trọng. Khách hàng không được tận tay sờ sản phẩm, thứ duy nhất họ có thể làm đó chính là nhìn ngắm sản phẩm qua mạng.
Người ta thường nói “Ấn tượng đầu tiên luôn là ấn tượng quan trọng nhất”, nếu hình ảnh “đập” vào mắt khách hàng không đẹp, họ sẽ rời bỏ ngay trang sản phẩm của mình. Việc kinh doanh online như chúng ta biết có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí, vậy tại sao chúng ta không đầu tư vào mặt hình ảnh để tăng doanh số bán hàng nhiều hơn nữa?

Cách chụp sản phẩm để thu hút người mua hàng

Có thể bạn chưa biết, hình đẹp, chân thật có thể thu hút sự chú ý của khách hàng và tạo lòng tin từ cái nhìn đầu tiên. Để có một sản phẩm đẹp, chúng ta cần chuẩn bị:

Sản phẩm:

Tất nhiên là bạn phải có một sản phẩm để chụp rồi, hơn thế nữa sản phẩm của bạn phải thật hoàn hảo, có thể nói là mẫu đẹp nhất trong tất cả các mẫu mà không bị một lỗi dù nhỏ đến đâu.

Góc chụp ảnh:

Khi tiến hành tác nghiệp, bạn cần chọn chính xác góc chụp mà ở đó, chúng có thể phô diễn hết nét đẹp của sản phẩm mà bạn đang dự tính trong việc kinh doanh online. Ngoài ra, những góc chụp ảnh “sáng tạo” sẽ mạng lại hiệu suất cao hơn ngoài mong đợi.
Ban đầu nếu chưa có chi phí và kinh nghiệm chụp ảnh, bạn có thể chụp một cách đơn giản nhất, đơn giản ở đây ko phải là chụp hoa loa, bạn phải luôn luôn cam đoan rằng, hình ảnh luôn sắc nét, bạn có thể rê ông kính từ trên cao xuống hoặc từ trước tới với khung cảnh đơn giản.
Khi đã có kinh nghiệm và chi phí đầu tư, bạn có thể thuê hẳn một người mẫu (ví dụ cho sản phẩm quần áo) hay một vị trí lí tưởng để tôn vinh vẻ đẹp của sản phẩm lên.

Ánh sáng:

Đây là phần quan trọng quyết định 50% vẻ đẹp của bức ảnh. Tốt nhất bạn nên chụp với ảnh sáng tự nhiên vào lúc 8-10h và 13-17h, khi đó ánh sáng không quá gắt gay chói hình ảnh. Lưu ý, chúng ta không nên chụp ngược sáng vì khi đó, bức tranh của chúng ta chỉ toàn màu đen vì tương phản.

Background:

Trong kinh doanh Online, đặc biệt là những cửa hàng còn mới, họ chưa có nhiều am hiểu về việc Marketing qua hình ảnh nên chúng ta sẽ dễ bắt gặp hiện tượng: “Bạ đâu chụp đó”.
Ví dụ: Chụp một chiếc áo đẹp trên bàn gỗ sần sùi hay chụp một chiếc mô tô thể thao bên cạnh bồn hoa sẽ không thể mang đến cảm xúc cho người mua hàng.
Việc các chi tiết trên hình ảnh có sự kết nối lẫn nhau, bố cục phân bổ hài hòa sẽ làm khách hàng cảm thấy thoải mái và có thiện cảm với sản phẩm.

Chi tiết sản phẩm:

Có thể bạn không để ý, sẽ tồn tại những khách hàng cực kì khó tính và có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực mà bạn đang kinh doanh online. Việc chụp chi tiết sản phẩm sẽ giúp bạn giảm thiểu hàng trăm câu hỏi về chất lượng cũng như ngoại quan sản phẩm.

Chỉnh sửa hình ảnh:

Để có thể tiếp cận đến độ hoàn hảo, không nào chúng ta bỏ qua bước chỉnh sửa, muốn đẹp xuất sắc thì phải sửa.
Thực chất, sẽ không có ngoại cảnh nào phụ hợp với yêu cầu khắc khe của chúng ta khi trình độ chụp ảnh đạt đến đẳng cấp. Vì thế sự can thiệp của photoshop hay những phần mềm chỉnh sửa đơn giản để mang đến bức tranh tuyệt đẹp là điều khá quan trọng.

Xem thêm:

Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

1. Vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

Quản lý là một tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội. Nếu không thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý, không thể thực hiện được các quá trình hợp tác lao động, sản xuất, không thể khai thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố của lao động sản xuất.

Quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động trong xã hội (đơn vị sản xuất kinh doanh, gia đình, đơn vị dân cư, quốc gia, khu vực, toàn cầu)

Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục
Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

– Vai trò của quản lý thể hiện trên các mặt:

+ Tạo ra sự thống nhất ý chí và hành động giữa các thành viên trong tổ chức. Chỉ có tạo ra sự thống nhất cao trong đa dạng thì tổ chức mới hoạt động có hiệu quả

+ Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung

+ Phối hợp tất cả các nguồn lực của tổ chức (Nhân sự, vật lực, tài chính, thông tin,…) để đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao

+ Giúp tổ chức thích nghi được với môi trường (luôn có sự biến đổi nhanh chóng) nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội và giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của các nguy cơ từ môi trường

– Các yếu tố làm tăng vai trò của quản lý, đòi hỏi quản lý phải thích ứng:

+ Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế (quy mô, cơ cấu, trình độ khoa học – công nghệ)

+ Cách mạng KH – CN đang diễn ra với tốc độ cao, quy mô rộng lớn. Muốn ứng dụng thành tựu KH – CN vào sản xuất và đời sống cần có chính sách và cơ chế quản lý phù hợp.

+ Trình độ xã hội và các quan hệ xã hội ngày càng cao đòi hỏi quản lý phải thích ứng (Trình độ học vấn, văn hóa, nhu cầu vật chất, tinh thần, tính dân chủ,…)

+ Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế đang diễn ra nhanh chóng đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý và hình thành một cơ chế quản lý phù hợp để phát triển hiệu quả và bền vững.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất

2. Bản chất của quản lý và quản lý giáo dục

Quản lý là hoạt động dựa vào quyền uy của chủ thể quản lý Quyền uy của chủ thể quản lý thể hiện ở những yếu tố nào? Một cơ quan quản lý mạnh, một nhà quản lý giỏi phải hội đủ 4 yếu tố quyền uy:

– Quyền uy về tổ chức hành chính

– Quyền uy về kinh tế

– Quyền uy về trí tuệ

– Quyền uy về đạo đức

Quản lý là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý.Tại sao quản lý là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý?  Người quản lý phải có những tiêu chuẩn nào?

– Các quyết định quản lý được xây dựng và ban hành bởi những tập thể và cá nhân những người quản lý cụ thể. Vì vậy, hiệu quả của các quyết định quản lý tùy thuộc vào năng lực nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào điều kiện kinh tế – xã hội của chủ thể quản lý.

– Yêu cầu phải lựa chọn những người có đủ phẩm chất và năng lực tham gia quản lý.

Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược Thông tin quản lý là gì? Những yêu cầu đối với thông tin quản lý?

– Quá trình quản lý là một quá trình thông tin, được tiến hành nhờ có thông tin

– Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng cách đưa ra thông tin điều khiển: mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, quyết định,…

– Đối tượng quản lý định hướng hoạt động bằng cách tiếp nhận thông tin điều khiển của chủ thể quản lý

– Chủ thể quản lý phải thường xuyên theo dõi kết quả thực hiện các quyết định của đối tượng quản lý thông qua các thông tin phản hồi (mối liên hệ ngược). Quá trình quản lý thường bị đổ vỡ vì các luồng thông tin phản hồi bị ách tắc (bóp méo, cắt xén, ngăn chặn,…)

Quản lý là một khoa học, một nghệ thuật, một nghề Tại sao nói quản lý là một khoa học, một nghệ thuật, một nghề?

– Quản lý là một khoa học

+ Có đối tượng NC, PP luận NC,

+ Quan điểm và tư duy hệ thống, tôn trọng quy luật khách quan, lý luận gắn với thực tiễn.

– Quản lý là một nghệ thuật

+ Phụ thuộc vào tài năng, kinh nghiệm, sự mẫn cảm của nhà quản lý,

+ Bao gồm nghệ thuật sử dụng PP, công cụ quản lý, nghệ thuật dùng người, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử,…

– Quản lý là một nghề:

+ Cần phải được đào tạo,

+ Nhà quản lý cần có niềm tin và lương tâm nghề nghiệp.

Tham khảo thêm:

Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

Những thành tựu của giáo dục – đào tạo ở nước ta trong thời gian qua