Alu trong máy tính là gì? Cách xây dựng một ALU 4-bit

4 Bit - Alu trong máy tính là gì?

Khái niệm ALU trong máy tính là gì ?

ALU là từ viết tắt của Arithmetics Logic Unit nghĩa là bộ số học và logic . ALU bao gồm các thiết bị thực hiện các phép tính số học và các phép tính logic.

Bảng chức năng của Alu cần thiết kế
Bảng chức năng của Alu cần thiết kế
4 Bit - Alu trong máy tính là gì?
4 Bit – Alu trong máy tính là gì?

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

giá viết thuê luận văn thạc sĩ

thuê làm chuyên đề

2. Một số ví dụ ALU

Một ví dụ về ALU (2-bit ALU) thực hiện AND, OR, XOR và cộng Đa số các ALU có thể thực hiện các phép toán sau:

số nguyên (cộng, trừ, nhân and chia) Bit logic (AND, NOT, OR, XOR) Dịch bit Các phép toán phức tạp Một kỹ sư có thể thiết kế một ALU để tính toán, Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ phép toán các phức tạp, ALU càng đắt, bộ xử lí càng lớn và càng tốn nhiều năng lượng, vân vân.

Bởi vậy, Các kỹ sư thường xuyên phải tính toán sao cho cân bằng, cung cấp cho bộ xử lí một ALU mạnh đủ để nó chạy nhanh, nhưng không quá phức tạp. Đó được gọi là software emulation.

Vào và Ra Dữ liệu vào ALU được thực hiện trên những operand và mã lệnh từ bộ điều khiển chỉ ra phép toán nào sẽ được thực hiện. Dữ liệu kết quả được xuất ra sau khi thực hiện phép toán.

Có nhiều thiết kế ALU đã tự tạo hoặc sinh mã lệnh điều kiện cho dữ liệu vào hoặc ra vào một thanh ghi trạng thái. Những mã lệnh này được dùng để chỉ thị như carry, tràn số, chia cho 0, vân vân.

ALU và FPU Một bộ dấu phẩy động (Số thực dấu phẩy động)(FPU – Floating point unit) cũng thực hiện các phép toán giữa hai giá trị, Nhưng chúng thực hiện dựa trên dạng dấu phẩy động, phức tạp hơn dạng mã bù hai của các ALU thông thường. FPU có rất nhiều mạch điện tử phức tạp, và có một số ALU.

Thường, các ALU thực hiện các phép toán số học với dạng số nguyên (như mã bù hai và BCD), trong khi các FPU tính toán các dạng phức tạp như bộ dấu phẩy động, số phức, …

3. Xây dựng một ALU 4-bit thực hiện các phép tính toán logic học và logic

  • Thiết kế ALU :  ta dùng nguyên tắc “chia để chị” để thiết kế ALU
  • ALU 4 bít là 4 ALU 1 bit :  ta có thể xem ALU n bit là n ALU 1 bit. Như vậy để thiết kế ALU 4 bít là ta có thể ghép 4 ALU 1 bit lại với nhau. Mỗi ALU 1 bit như vậy được gọi là một bit slice. Để thiết kế 1 bit slice ta dùng bảng (M, S3,S2,S1,S0,C0,Ai,Bi) và hai ngõ xuất là Fi và Ci + 1
  • ALU gồm A v L : Nếu xét về chưc năng ta có thể phân ALU thành 2 phần riêng biệt là logic và toán học. Sau đó ta có thể dùng MUX 2:1 để kết hợp hai khối này . Hình sau thể hiên sơ đồ khối của 1 bit slice ALU
Sơ đồ khồi của Alu theo chức năng
Sơ đồ khồi của Alu theo chức năng

Các bài viết có thể xem thêm:

an ninh mạng máy tính là gì

cơ sở dữ liệu là gì

Uml là gì

Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp

Hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng như các loại hình doanh nghiệp khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một số phương thức cho vay cơ bản:

  Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:

        + Cho vay thấu chi, là nghiệp vụ ngân hàng cho DN vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng phổ biến hơn với các DN có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

nhận làm chuyên đề

giá thuê viết luận văn thạc sĩ

        + Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các DN. Nguồn tín dụng ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay đơn giản và doanh nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay.

        + Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây cũng là phương thức cho vay mà ngân hàng thường chỉ áp dụng với các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng.

        + Cho vay luân chuyển, là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng cho vay dựa trên luân chuyên của hàng hóa của doanh nghiệp. Hình thức cho vay như trên rất ít được sử dụng với các DN.

        + Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình thức cho vay này khá hợp lý đối với các DN và thường được áp dụng kết hợp với các hình thức cho vay khác.

        + Cho vay giản tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp dụng với các DN.

  Căn cứ vào thời hạn cho vay, ngân hàng phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Trong đó, các DN chủ yếu sử dụng cho vay ngắn hạn cho các khoản vay dưới 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn.

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

tai nạn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Quy trình cho vay tín dụng

Quy trình cho vay hay quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.  

Quy trình cho vay tín dụng
Quy trình cho vay tín dụng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

làm thuê chuyên đề

nhận viết luận văn thuê

        Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại. Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:

        + Làm cơ sở cho việc phân định  quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng.

        + Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.

        Quy trình cho vay nói chung và đối với các doanh nghiệp tại NHTM bao gồm các bước sau:

        + Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

        Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng khả năng sử dụng vốn vay khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

        + Bước 2: Phân tích tín dụng

        Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.

        Mục tiêu: Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.

        Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay.

        + Bước 3: Ra quyết định tín dụng

        Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.

        Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

        Một là, đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

        Hai là, từ chối cho vay với một khách hàng tôt.

        Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

        + Bước 4: Giải ngân

        Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.

        Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.

        + Bước 5: Giám sát tín dụng: Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,… để đảm bảo khả năng thu nợ.

        + Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

tai nạn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp

Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng hay nói cách khác là cho vay.

Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp
Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

làm chuyên đề thuê

dịch vụ viết luận văn thuê

Khái niệm cho vay

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn (Phan Thị Cúc, 2005)

Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, các NHTM khác. Tín dụng  là hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất trong toàn bộ hoạt động của NHTM. Phần lớn vốn huy động được ngân hàng dùng để cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay đóng góp lớn vào lợi nhuận của ngân hàng.

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

“Cho vay đối với DNVVN tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho DNVVN một khoản tiền đế sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” (Tô Ngọc Hưng, 2009)

Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Điều này không chỉ đúng với các nước đang phát triển mà còn đúng với cả những nước có thị trường tài chính phát triển. Cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 70% hoạt động cho vay của các ngân hàng.

Đặc điểm của cho vay đối với doanh nghiệp

        Hoạt động cho vay với khách hàng doanh nghiệp nói riêng có đặc điểm cơ bản sau:

        – Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NH chiếm tỷ trọng thấp, nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NH.

        – Thông tin khách hàng có độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân, hộ gia đình.

        – Đối tượng cho vay doanh nghiệp của NH rất ña dạng vì DN hoạt ñộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

        – Nhu cầu vay của doanh nghiệp thường rất lớn trong khi khả năng ñáp ứng về tài sản bảo ñảm nợ vay của DN có giới hạn.

        – Chi phí tổ chức cho vay doanh nghiệp thường cao hơn cho vay cá nhân, hộ gia đình.

Các bài viết có thể xem thêm:

an ninh mạng máy tính là gì

cơ sở dữ liệu là gì

Uml là gì

các biện pháp an toàn điện

MỘT SỐ QUY ĐỊNH KHI LÀM CHUYÊN ĐỀ, TIỀU LUẬN VÀ LUẬN VĂN

MỘT SỐ LƯU Ý CHUNG:

  1. KHÔNG được mô tả số liệu
  2. Khi phân tích số liệu ta chỉ phân tích xu hướng theo chiều ngang và chiều dọc bảng, đồng thời kết hợp chúng lại để chỉ ra cái được và cái chưa được (nguyên nhân => cơ sở đề xuất giải pháp)
  3. Số liệu: phù hợp, đầy đủ, chính thống (có đấu xác nhận của cơ quan hoặc báo cáo được kiểm toán trên website,…)
  4. Không header và footer
  5. KHÔNG COPPY
  6. Đề cương + số điện thoại gửi qua mail (tối 7 ngày nhận lại), bản nháp in bản giấy nộp tại tủ bộ môn (tối đa 14 ngày nhận lại)
  7. Đề cương sơ bộ: trình bày chương 1, 2 + chi tiết các chương sau + trình bày tài liệu tham khảo
  8. Đề cương chi tiết: chi tiết tới bảng số liệu (chưa phân tích chỉ mới bảng số liêu thôi)
  9. TUYỆT ĐỐI TRÌNH BÀY THEO QUY ĐỊNH CỦA KHOA (website)
  10. Không được trùng đề tài và số liệu phải thống nhất đối với các bạn thực tập tại một cơ quan.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

dịch vụ viết chuyên đề thuê

viết thuê luận văn thạc sĩ luật

KẾT CẤU BÀI

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tầm quan trọng của vấn đề đang phân tích.

Ví dụ: “Đánh giá hoạt động huy động vốn của ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ”

Phải trả lời câu hỏi: Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn trên địa bàn thành phố Cần Thơ và tại ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ.

Chú ý: Không nên viết tắt.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1     Mục tiêu chung

Mục tiêu cốt lỗi của đề tài.

Ví dụ: Đánh gia hoạt động huy động vốn của ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ từ 2011 đến 06/2014 nhằm đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho Ngân hàng.

1.2.2     Mục tiêu cụ thể

Các mục tiêu chính của đề tài.

Ví dụ: Mục tiêu cụ thể của đề tài là:

(1)  Phân tích thực trạng của hoạt động huy động vôn của ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ từ 2011 đến 06/2014;

(2)  Đánh giá thực trạng hoạt động huy động vôn của ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ từ 2011 đến 06/2014;

(3)  Đề xuất giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ.

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1     Không gian

Đề tài nghiên cứu tại ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần Thơ

1.3.2     Thời gian

      Thời gian số liệu: từ 2011 đến 06/2014

      Thời gian thực hiện đề tài: từ 02/8/2014 đến 02/10/2014

1.3.3     Nội dung

Phân tích và đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng.

………….

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

PHẦN NÀY BẮT BUỘC PHẢI CÓ NGUỒN TRÍCH DẪN TỪ TÀI LIỆU CHÍNH THỐNG: SÁCH, VĂN BẢN PHÁP LUẬT, BÁO/CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN CÁC TẠP CHÍ CÓ UY TÍN, TỔNG HỢP CÁC SỰ KIỆN XÃ HỘI PHÁT SINH (ĐỀ TÀI CÓ SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG),…

NỘI DUNG CỦA PHẦN NÀY: Trình bày khung lý thuyết nghiên cứu (hệ thống hóa về lý luận các vấn đề có liên quan đến đề tài được chọn nghiên cứu để làm cơ sở cho phân tích thực tiễn).

Trình bày và thảo luận các khái niệm quan trọng nhất liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các chỉ tiêu, công thức tính toán và ý nghĩa của các chỉ tiêu đo lường được sử dụng trong đề tài nghiên cứu (dựa vào các lý thuyết, nghiên cứu từ trước đến nay) giúp người đọc hiểu được nghiên cứu của tác giả.

Trích dẫn trong phần nội dung của bài viết là một trong những việc rất quan trọng trong các bài viết khoa học, báo cáo nghiên cứu, luận văn… Nếu sử dụng thông tin của người khác mà không ghi rõ nguồn trích dẫn thì thông thường gọi là đạo văn.

Tác giả của thông tin được trích dẫn trong bài được định nghĩa là cá nhân (một tác giả), tập thể (nhiều tác giả), các cơ quan tổ chức. Không ghi học hàm, học vị, địa vị xã hội của tác giả.

Tác giả là cá nhân: Trích dẫn tác giả người nước ngoài theo họ, đối với người Việt Nam ghi cả họ tên. Ví dụ: tên đầy đủ của tác giả và năm xuất bản là James Robert Jones (1992) thì ghi Jones (1992).

Tác giả là tổ chức: Nếu tổ chức đó có tên rất phổ biến thì có thể viết tắt. Nếu không thì ghi đầy đủ tên tổ chức.

Cách thức trích dẫn theo tiêu chuẩn của Harvard là hệ thống trích theo tác giả và năm xuất bản. Trích dẫn có hai hình thức: Trích trực tiếp và trích gián tiếp.

Trích dẫn trực tiếp: là trích dẫn nguyên văn, phải đảm bảo tính chính xác từ ngữ, định dạng của tác giả được trích dẫn. Nội dung trích dẫn đặt trong dấu ngoặc kép.

Trích dẫn gián tiếp: là sử dụng cụm từ, ý tưởng, kết quả hoặc đại ý của một vấn đề để diễn tả theo ý, cách viết của mình trong bài viết.

Nếu tên tác giả đặt ở đầu câu: thì đặt năm xuất bản, trang trong dấu ngoặc đơn (ví dụ: Cormack (1994, trang 32-33) phát biểu rằng “khi viết bài mà bài viết đó có các độc giả là giới chuyên môn học thuật đọc, người viết luôn luôn/lúc nào cũng phải nêu nguồn trích dẫn từ các công trình đã xuất bản”)

Nếu tác giả đặt ở cuối câu: thì đặt tên tác giả, năm xuất bản, trang trong dấu ngoặc đơn (ví dụ: Việc tham khảo và trích dẫn các tài liệu đã xuất bản là một đặt trưng của việc viết những bài cho đối tượng độc giả là những nhà chuyên môn học thuật (Cormack, 1994).

Tất cả các tài liệu được trích dẫn trong nội dung bài viết phải có trong danh mục tài liệu tham khảo với những thông tin chi tiết về tài liệu đó và ngược lại.

Cách ghi nguồn trích dẫn Ví dụ minh họa
Một tác giả:

Tên tác giả, năm xuất bản, trang

UNDP (2009, trang 25) nhận định …

… (UNDP, 2009, trang 25)

Hai tác giả:

Ghi cả hai tên tác giả, nối với nhau bằng chữ và hoặc chữ and (tiếng Anh)

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008, trang 76) ….

… (Bellamy and Taylor, 1998, pp.40)

Nhiều hơn hai tác giả:

Chỉ ghi tên một tác giả hoặc chữ et al (tiếng Anh)

Võ Thành Danh và cộng sự (2005) …

… (Henderson et al., 1987, p.64)

Tác giả có nhiều hơn một tài liệu xuất bản trong năm:

Thì ghi thêm a,b,c đi kèm sau năm

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (2005a, 2005b) thu nhập bình quân đầu người….

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp thu thập só liệu

2.2.1.1 Số liệu thứ cấp

Số liệu lấy từ đâu? Báo cáo gì? Thời gian nào? Ghi cụ thể, không ghi chung chung.

Ví dụ: Sô liệu thứ cấp được lấy từ phòng Huy động vôn của ngân hàng Đại Dương chi nhánh Cần thời tư 2011 đến 06/2014.

2.2.1.2 Số liệu sơ cấp

– Phương pháp chọn mẫu

– Xác định cỡ mẫu

– Địa bàn

– Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

– VIẾT THEO MỤC TIÊU CỤ THỂ

– MỤC TIÊU CỤ THỂ THƯ I: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GÌ? SỬ DỤNG ĐỀ LÀM GÌ (KẾT QUẢ KỲ VỌNG ĐẠT ĐƯỢC), SỬ DỤNG NHƯ THẾ NÀO (CÁCH ÁP DUNG PHƯƠNG PHÁP VÀO ĐỂ PHÂN TÍCH).

Ví dụ: Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối để phân tích thực trạng huy động vốn thông qua các chỉ tiêu kinh tế: tiền gửi khách hàng, tiền gửi các tổ chức kinh tế, … (liệt kê hết)

TRÌNH BÀY PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG THEO MỤC TIÊU.

– NẾU ĐỀ TÀI CÓ SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG THÌ:

Xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn (ví dụ mô hình sự thỏa mãn của nhân viên, mô hình lòng trung thành của khách hàng…). Phần này sẽ trình bày chi tiết các giả thuyết cần kiểm định trong mô hình nghiên cứu. Các biến số trong mô hình phải được định nghĩa rõ ràng (cách thức đo lường và đơn vị tính).

……………

CHƯƠNG 3: THỚI THIỆU CƠ QUAN THỰC TẬP HOẶC ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Những vấn đề được đề cập ở đây thì chương 2 phải có và giải quyết được các mục tiêu cụ thể.

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP (NHỮNG VẤN ĐỀ MÀ CƠ QUAN THỰC TẬP CÓ THỂ TỰ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC, YẾU TỐ CHỦ QUAN)

Chia thành nhiều nhóm giải pháp: giải pháp không cần nhiều nhưng phải trúng với phần phân tích thực trạng ở trên.

5.1 Đa dạng hóa sản phẩm huy động

– Cơ sở đề xuất giải pháp: Nguyên nhân, tồn tại được phân tích ở nội dung trước hoặc lợi thế/ bất lợi riêng bản thân Ngân hàng

Ví dụ: Lượng tiền gửi 06/2014 giảm là do các sản phẩm huy động còn chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như sở thích của khách hàng.

– Giải pháp: giải quyết phần cơ sở đề xuất giải pháp

Ví dụ: Ngân hàng nên đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi như: CÁC SẢN PHẨM MỚI VỚI TÍNH NĂNG THÌ TÁC GIẢI GIỚI THIỆU.

……………

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1 KẾT LUẬN

Viết tuần tự kết quả nghiên cứu đạt được theo mục tiêu cụ thể và giới hạn của nghiên cứu nhưng không tách đoạn nhiều.

6.2 KIẾN NGHỊ

Những vấn đề bản thân cơ quan đang thực tập giải quyết được.

Ví dụ: Tăng trần lãi suất huy động => Kiến nghị đến NHNN …

TÀI LIỆU THAM KHẢO

XEM QUY ĐỊNH CỦA KHOA

Các bài viết có thể xem thêm: HƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN TỔNG QUAN , tín dụng ngân hàng là gì , an ninh mạng máy tính là gìcơ sở dữ liệu là gì

Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL

Như đã trình bày ở trên, mô hình năm thành phần của thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman & CTG, đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới ứng dụng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng ở nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau. Và ngay tạo thị trường Việt Nam, mô hình nghiên cứu này cũng đã được các nhà nghiên cứu ứng dụng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ của các loại dịch vụ khác nhau. Cụ thể:

Hồ Minh Sánh đã thực hiện nghiên cứu “Đo lường chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ADSL”. Nghiên cứu điều chỉnh thành đo SERVQUAL của Parasuraman và các cộng sự (1988,1991) để đo lường chất lượng dịch vụ ADSL. Kết quả cho thấy ngoài 5 thành phần nguyên gốc của thang đo SERVQUAL gồm: phương tiện hữu hình, năng lực phục vụ của nhân viên, tin cậy, đồng cảm, đáp ứng; thang đo chất lượng dịch vụ ADSL có thêm thành phần thứ 6 về đường truyền dịch vụ. Thang đo được kiểm định và đáp ứng các yêu cầu về giá trị, độ tin cậy và sự phù hợp của mô hình.

Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL
Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viết luận văn thuê uy tín

dịch vụ làm chuyên đề thuê

Nguyễn Công Trường (2008) đã thực hiện nghiên cứu: “Đo lường chất lượng dịch vụ và chi phí tác động đến sự thỏa mãn của người sử dụng giá trị trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu này đã xây dựng dựa trên cơ sở của lý thuyết về chất lượng dịch vụ, tham khảo các thang đo đã được phát triển trên thế giới như thang đo SERVQUAL, các nghiên cứu mẫu về chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng (Parasuraman & CTG). Chúng được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với dịch vụ giải trí trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích EFA cho thấy thang đo các yếu tố tác động đến sự thỏa mãn gồm có 6 yếu tố: tin cậy, đáp ứng, năng lực, đồng cảm, phương tiện hữu hình, chi phí. Kết quả kiểm định cũng cho thấy có 6 thành phần trên tác động đến sự thỏa mãn của người sử dụng dịch vụ giải trí trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả của những nghiên cứu ứng dụng này đã góp phần khẳng định các nhận định trước đó cho rằng các thành phần chất lượng dịch vụ không ổn định, tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và thị trường nghiên cứu. Đo lường biến tiềm ẩn bằng nhiều biến quan sát sẽ làm tăng giá trị và độ tin cậy của việc đo lường; các ngành dịch vụ khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên việc hiệu chỉnh một số khái niệm trong các thang đo cho phù hợp với từng ngành, từng thị trường nghiên cứu là cần thiết, sự hài lòng của khách hàng được giải thích bởi nhiều yếu tố khách nhau ngoài chất lượng dịch vụ. Giá cả là yếu tố rất nhạy cảm với khách hàng và có ảnh hưởng đáng kể về sự hài lòng của khách hàng    

Các bài có thể xem thêm:

Quy trình cho vay tín dụng

các biện pháp an toàn điện

sql server agent là gì

chiến lược marketing

tiếp thị thông minh

HƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN TỔNG QUAN CỦA HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN TỔNG QUAN CỦA HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

1. Trình bày chung

Trang bìa

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỌ VÀ TÊN NGHIÊN CỨU SINH

Tiểu luận tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án”

Tên đề tài luận án:    ………………………………………………..  

Ngành, chuyên ngành: …………………………………………….

Mã số:…………………………………………………………….

Người hướng dẫn khoa học: 1………

                                                  2………

Hà Nội, năm ………

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

thuê làm luận văn tốt nghiệp

dịch vụ viết thuê chuyên đề

2. Cấu trúc tiểu luận tổng quan

Gồm có các Phần, Mục, tiểu mục sau:

Phần Mở đầu

Phần Nội dung

Mục 1. Tính cấp thiết của đề tài

Mục 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, Nghiên cứu sinh cần tập trung:

– Hệ thống hóa tất cả các công trình, bài viết đã được công bố, kể cả các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ (kể cả trong và ngoài nước) liên quan mật thiết đến đề tài luận án hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đề cần được đề cập trong luận án;

– Phân tích, đánh giá và nêu rõ những mặt thành công và mức độ thành công của các công trình này trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đề tài luận án hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đề cần được đề cập trong luận án; những quan điểm, luận điểm đã được thừa nhận rộng rãi, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong những công trình nghiên cứu này;

– Phân tích, đánh giá và nêu rõ những vấn đề còn tồn tại liên quan đến đề tài luận án mà trong các công trình nói trên đã đề cập, nhưng chưa được giải quyết một cách triệt để hoặc còn đang có ý kiến khác nhau hoặc còn đang bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu;

– Lựa chọn và xác định những vấn đề thuộc nội dung luận án mà tác giả cần và sẽ tập trung giải quyết.

Mục 3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

3.1 Cơ sở lý thuyết

Mục này  NCS cần nêu, phân tích cơ sở lý thuyết của đề tài, nêu và phân tích các giả thuyết nghiên cứu và xác định làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.

Kết quả của việc phân tích làm rõ cơ sở lý thuyết và cơ sở lý luận của luận án là đưa ra được một khung phân tích của luận án, gồm:

Câu hỏi nghiên cứu à Lý thuyết nghiên cứu à Giả thuyết nghiên cứu à Kết quả nghiên cứu (dự định)

3.2 Phương pháp nghiên cứu

– Nêu rõ tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu gì, ở phần nào, sử dụng như thế nào và để làm gì? (Nêu những mặt mạnh của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu đó để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận án).

– Phân tích làm rõ hướng tiếp cận.

– Chỉ rõ mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục 4. Phạm vi đối tượng nghiên cứu

Giới hạn và phân tích rõ về đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu…

Danh mục tài liệu tham khảo

Liệt kê toàn bộ tài liệu tham khảo mà tác giả đã nghiên cứu và được sử dụng để viết tiểu luận tổng quan theo quy định hiện hành.

QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Đóng bìa mềm (theo mẫu)

– Trang phụ bìa

– Bài viết in trên giấy A4, độ dài tối thiểu 20 trang, tối đa không quá 30 trang (không kể tài liệu tham khảo).

– Chữ Times New Roman, cỡ 14, dãn dòng 1,5 lines; mật độ chữ bình thường.

– Lề trên 2cm; lề dưới 2cm; lề trái 3,5cm; lề phải: 2cm.

– Số trang đánh ở giữa, bên trên, bắt đầu từ mục lục.

Các bài có thể xem thêm:

TIỀU LUẬN VÀ LUẬN VĂN

CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH

TIẾP THỊ THÔNG MINH

QUY TRÌNH CHO VAY TÍN DỤNG

Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng

Cấp TD là chức năng kinh tế cơ bản của NH. Rủi ro trong NH có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra.

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [5].

 

Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng
Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viết luận văn thuê ở tphcm

dịch vụ viết chuyên đề

Khái niệm rủi ro tín dụng là gì?

Nói chung, có khá nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng quy chung lại có thể rút ra một số nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

– Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, có nghĩa là người vay bị trễ hẹn hoặc không thanh toán.

– Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những tổn thất tài chính đối với ngân hàng, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc thậm chí phá sản.

– Rủi ro trong hoạt động tín dụng là khách quan nên người ta không thể loại trừ hẳn chúng mà chỉ có thể hạn chế rủi ro và giữ chúng ở một mức độ chấp nhận được.

Phân loại rủi ro tín dụng:

Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại rủi ro tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu.

– Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, việc phân chia rủi ro tín dụng được thể hiện như sau

+ Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ:

  •         Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
  • Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
  •         Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

     + Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

  •         Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
  • Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

– Rủi ro tín dụng còn có thể được chia thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro.

+ Rủi ro khách quan: Là rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch họa, người vay bị tai nạn, chết, mất tích …

+ Rủi ro chủ quan: Là rủi ro được tạo ra do chủ quan của bên vay hoặc bên cho vay vì vô tình hay cố ý, ví dụ như: bên vay sử dụng vốn không đúng mục đích gây thất thoát vốn, hay rủi ro phát sinh do tiêu cực từ phía cán bộ ngân hàng…

Các bài có thể xem thêm:

Quy trình cho vay tín dụng

an ninh mạng máy tính là gì

các biện pháp an toàn điện

chiến lược marketing

Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng

1. Khái niệm tín dụng tiêu dùng:

TD tiêu dùng là các khoản cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình, như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế, du lịch …

              Phân loại TD tiêu dùng: Người ta có thể phân loại TD tiêu dùng với nhiều tiêu thức khác nhau như trong TD sản xuất. Tuy nhiên ở góc độ nghiệp vụ và tính phổ biến của nó người ta có thể phân chia TD tiêu dùng thành tín dụng trực tiếp và gián tiếp – xuất phát từ việc NHTM thể hiện những khoản cho vay tiêu dùng trực tiếp với khách hàng xin vay tại NH, hoặc dưới hình thức gián tiếp bằng cách mua các phiếu bán hàng trả góp từ những người bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tiêu dùng.

Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

nhận làm luận văn tốt nghiệp

dịch vụ làm thuê chuyên đề

2. Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng:

Nhìn chung, tín dụng tiêu dùng có những đặc điểm như sau:

– Đối tượng của tín dụng tiêu dùng là các nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình tùy thuộc vào tình hình tài chính của họ mà có những mức độ khác nhau. Ở những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu giao dịch tạo ra sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập trung bình, nhu cầu về tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh, do có ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng hơn là dùng khoản tiền dự phòng của mình, hoặc là không tiết chế nhu cầu tiêu thụ của mình, mà lao vào những chi tiêu có tích cách phô trương hoặc thời trang vượt qua khả năng thu nhập của chính họ. Ở những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập cao, nhu cầu tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán, hoặc là một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu, nhất là khi vốn của họ nằm trong tài khoản đầu tư dài hạn, xét về số tuyệt đối, nhu cầu ở nhóm người nầy thường lớn.

        – Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình do vậy, nguồn trả nợ của khoản vay tiêu dùng thường không phải là kết quả của việc sử dụng vốn vay mà là từ tiền lương, từ lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nhìn chung đây là hình thức cho vay mà các Ngân hàng vẫn đang chú trọng vì những lợi ích mà nó mang lại.

        – Nhu cầu vay tiêu dùng của KH hầu như ít co giãn với lãi suất. Thông thường, người đi vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.

        – Nguy cơ rủi ro tín dụng tiêu dùng cao hơn các loại tín dụng khác, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, lạm phát, thất nghiệp gia tăng… ảnh hưởng đến thu nhập của người dân.

– Là hình thức bán lẻ, giá trị của các khoản vay thường nhỏ, số lượng món vay lớn dẫn đến chi phí khoản vay cao. Do vậy, lãi suất khoản vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các khoản vay thương mại.

3. Các ngân hàng nào sẽ đồng ý cho vay tiêu dùng?

Hiện tại hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đều có sản phẩm tín dụng cho vay tiêu dùng với khách hàng cá nhân như :  vay tín chấp Prudential, vay vốn ngân hàng Agribank, vay vôn ngân hàng Vietcombank, vay vốn ngân hàng BIDV hoặc vay vốn ngân hàng Saccombank. Ngoài ra, các ngân hàng như TpBank, PvcomBank , VietinBank, ACB cũng có những sản phẩm tín dụng ưu đãi cho khách hàng vay tiêu dùng.

4. Các loại cho vay tiêu dùng là gì

+ Cho vay tiêu dùng trả góp

+ Cho vay tiêu dùng phi trả góp

+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn

+ Cho vay tiêu dùng cư trú

+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú

+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp

+ Cho vay tiêu dùng gián tiệp

 

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

an toàn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng

Tín dụng xuất phát từ gốc chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam có nghĩa là quan hệ vay mượn.

Nhìn một cách tổng quát: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”.

Trong hoạt động Ngân hàng, cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ xuyên suốt cùng với nghiệp vụ nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán. “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó,” Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [12]

Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng
Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viet luan van

dịch vụ làm chuyên đề

Tín dụng ngân hàng là gì

Tín dụng NH là hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định thông qua các nghiệp vụ NH.

Tín dụng NH là hình thức TD chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế. Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống NH. Tín dụng NH là hình thức TD chuyên nghiệp, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú.

Phân loại tín dụng ngân hàng

Trong thực tế khi đề cập đến tín dụng ngân hàng, thường chỉ xem xét trên giác độ ngân hàng là người cho vay. Nếu xem xét ngân hàng dưới gốc độ là người cấp tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể được chia thành những loại sau đây:

– Căn cứ vào mục đích tín dụng:

+ TD sản xuất kinh doanh: NH cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ,…

+ TD tiêu dùng: Phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như: mua sắm, trang trải các chi phí trong đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng…

– Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

+ TD ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn tối đa đến 12 tháng, nhằm phục vụ nhu cầu vốn lưu động sản xuất kinh doanh và chi tiêu ngắn hạn.

        + TD trung hạn: Là loại cho vay của NH với thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.

        + TD dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm nhằm tài trợ cho việc mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng … phục vụ sản xuất kinh doanh.

– Căn cứ vào bảo đảm của tín dụng:

        + TD không đảm bảo bằng tài sản: Ngân hàng cho vay dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm bản thân khách hàng vay.

        + TD có đảm bảo: Vốn vay được đảm bảo bằng tài sản của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

        – Căn cứ vào hình thức vốn tín dụng:

        + TD bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tiền.

        + TD bằng tài sản: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tài sản, ví dụ như tín dụng thuê mua.

        – Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:

        + TD trả góp: KH vay phải hoàn trả dần vốn gốc và lãi theo định kỳ.

        + TD phi trả góp: KH vay phải hoàn trả toàn bộ vốn một lần khi đáo hạn.

        + TD hoàn trả theo yêu cầu: Là loại cho vay của ngân hàng mà việc thu nợ được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay trên cở sở khả năng của người đi vay và trong thời hạn hợp đồng đã thỏa thuận.

        – Căn cứ vào tính chất hoàn trả:

        + TD hoàn trả trực tiếp: Ngân hàng cho vay và việc hoàn trả được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay.

        + TD hoàn trả gián tiếp: Việc trả nợ không được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay mà gián tiếp thông qua người thụ lệnh của người đi vay.

Các bài  có thể xem thêmcác biện pháp an toàn điện , msconfig là gìcổng console là gìan toàn lao động là gìan toàn điện là gì