Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp

Hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng như các loại hình doanh nghiệp khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một số phương thức cho vay cơ bản:

  Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:

        + Cho vay thấu chi, là nghiệp vụ ngân hàng cho DN vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng phổ biến hơn với các DN có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

nhận làm chuyên đề

giá thuê viết luận văn thạc sĩ

        + Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các DN. Nguồn tín dụng ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay đơn giản và doanh nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay.

        + Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây cũng là phương thức cho vay mà ngân hàng thường chỉ áp dụng với các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng.

        + Cho vay luân chuyển, là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng cho vay dựa trên luân chuyên của hàng hóa của doanh nghiệp. Hình thức cho vay như trên rất ít được sử dụng với các DN.

        + Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình thức cho vay này khá hợp lý đối với các DN và thường được áp dụng kết hợp với các hình thức cho vay khác.

        + Cho vay giản tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp dụng với các DN.

  Căn cứ vào thời hạn cho vay, ngân hàng phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Trong đó, các DN chủ yếu sử dụng cho vay ngắn hạn cho các khoản vay dưới 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn.

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

tai nạn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Phân loại cho vay đối với doanh nghiệp

Hoạt động cho vay đối với DNVVN cũng như các loại hình doanh nghiệp khác rất đa dạng với các tiêu chí phân loại khác nhau. Sau đây là một số phương thức cho vay cơ bản:

  Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:

        + Cho vay thấu chi, là nghiệp vụ ngân hàng cho DN vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định. Hình thức vay trên đang dần được sử dụng phổ biến hơn với các DN có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

nhận làm chuyên đề

giá thuê viết luận văn thạc sĩ

        + Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến nhất đối với các DN. Nguồn tín dụng ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ kinh doanh. Nghiệp vụ cho vay đơn giản và doanh nghiệp có thể kiểm soát từng lần vay.

        + Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Đây cũng là phương thức cho vay mà ngân hàng thường chỉ áp dụng với các khách hàng có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng.

        + Cho vay luân chuyển, là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng cho vay dựa trên luân chuyên của hàng hóa của doanh nghiệp. Hình thức cho vay như trên rất ít được sử dụng với các DN.

        + Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Hình thức cho vay này khá hợp lý đối với các DN và thường được áp dụng kết hợp với các hình thức cho vay khác.

        + Cho vay giản tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Hình thức vay này ít được các ngân hàng áp dụng với các DN.

  Căn cứ vào thời hạn cho vay, ngân hàng phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn. Trong đó, các DN chủ yếu sử dụng cho vay ngắn hạn cho các khoản vay dưới 12 tháng và chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn.

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

tai nạn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Quy trình cho vay tín dụng

Quy trình cho vay hay quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.  

Quy trình cho vay tín dụng
Quy trình cho vay tín dụng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

làm thuê chuyên đề

nhận viết luận văn thuê

        Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại. Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:

        + Làm cơ sở cho việc phân định  quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng.

        + Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.

        Quy trình cho vay nói chung và đối với các doanh nghiệp tại NHTM bao gồm các bước sau:

        + Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

        Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng khả năng sử dụng vốn vay khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

        + Bước 2: Phân tích tín dụng

        Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.

        Mục tiêu: Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.

        Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay.

        + Bước 3: Ra quyết định tín dụng

        Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.

        Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

        Một là, đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

        Hai là, từ chối cho vay với một khách hàng tôt.

        Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

        + Bước 4: Giải ngân

        Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.

        Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.

        + Bước 5: Giám sát tín dụng: Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,… để đảm bảo khả năng thu nợ.

        + Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

tai nạn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp

Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng hay nói cách khác là cho vay.

Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp
Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

làm chuyên đề thuê

dịch vụ viết luận văn thuê

Khái niệm cho vay

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn (Phan Thị Cúc, 2005)

Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là NHTM và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, các NHTM khác. Tín dụng  là hoạt động quan trọng và có quy mô lớn nhất trong toàn bộ hoạt động của NHTM. Phần lớn vốn huy động được ngân hàng dùng để cho vay. Thu nhập từ hoạt động cho vay đóng góp lớn vào lợi nhuận của ngân hàng.

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

“Cho vay đối với DNVVN tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao cho DNVVN một khoản tiền đế sử dụng vào một mục đích nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” (Tô Ngọc Hưng, 2009)

Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Điều này không chỉ đúng với các nước đang phát triển mà còn đúng với cả những nước có thị trường tài chính phát triển. Cho vay doanh nghiệp chiếm khoảng 70% hoạt động cho vay của các ngân hàng.

Đặc điểm của cho vay đối với doanh nghiệp

        Hoạt động cho vay với khách hàng doanh nghiệp nói riêng có đặc điểm cơ bản sau:

        – Số lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn tại NH chiếm tỷ trọng thấp, nhưng dư nợ cho vay doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NH.

        – Thông tin khách hàng có độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân, hộ gia đình.

        – Đối tượng cho vay doanh nghiệp của NH rất ña dạng vì DN hoạt ñộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

        – Nhu cầu vay của doanh nghiệp thường rất lớn trong khi khả năng ñáp ứng về tài sản bảo ñảm nợ vay của DN có giới hạn.

        – Chi phí tổ chức cho vay doanh nghiệp thường cao hơn cho vay cá nhân, hộ gia đình.

Các bài viết có thể xem thêm:

an ninh mạng máy tính là gì

cơ sở dữ liệu là gì

Uml là gì

các biện pháp an toàn điện

Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL

Như đã trình bày ở trên, mô hình năm thành phần của thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman & CTG, đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới ứng dụng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng ở nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau. Và ngay tạo thị trường Việt Nam, mô hình nghiên cứu này cũng đã được các nhà nghiên cứu ứng dụng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ của các loại dịch vụ khác nhau. Cụ thể:

Hồ Minh Sánh đã thực hiện nghiên cứu “Đo lường chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ADSL”. Nghiên cứu điều chỉnh thành đo SERVQUAL của Parasuraman và các cộng sự (1988,1991) để đo lường chất lượng dịch vụ ADSL. Kết quả cho thấy ngoài 5 thành phần nguyên gốc của thang đo SERVQUAL gồm: phương tiện hữu hình, năng lực phục vụ của nhân viên, tin cậy, đồng cảm, đáp ứng; thang đo chất lượng dịch vụ ADSL có thêm thành phần thứ 6 về đường truyền dịch vụ. Thang đo được kiểm định và đáp ứng các yêu cầu về giá trị, độ tin cậy và sự phù hợp của mô hình.

Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL
Một số nghiên cứu sử dụng SERVQUAL

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viết luận văn thuê uy tín

dịch vụ làm chuyên đề thuê

Nguyễn Công Trường (2008) đã thực hiện nghiên cứu: “Đo lường chất lượng dịch vụ và chi phí tác động đến sự thỏa mãn của người sử dụng giá trị trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu này đã xây dựng dựa trên cơ sở của lý thuyết về chất lượng dịch vụ, tham khảo các thang đo đã được phát triển trên thế giới như thang đo SERVQUAL, các nghiên cứu mẫu về chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng (Parasuraman & CTG). Chúng được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với dịch vụ giải trí trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích EFA cho thấy thang đo các yếu tố tác động đến sự thỏa mãn gồm có 6 yếu tố: tin cậy, đáp ứng, năng lực, đồng cảm, phương tiện hữu hình, chi phí. Kết quả kiểm định cũng cho thấy có 6 thành phần trên tác động đến sự thỏa mãn của người sử dụng dịch vụ giải trí trực tuyến tại thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả của những nghiên cứu ứng dụng này đã góp phần khẳng định các nhận định trước đó cho rằng các thành phần chất lượng dịch vụ không ổn định, tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu và thị trường nghiên cứu. Đo lường biến tiềm ẩn bằng nhiều biến quan sát sẽ làm tăng giá trị và độ tin cậy của việc đo lường; các ngành dịch vụ khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên việc hiệu chỉnh một số khái niệm trong các thang đo cho phù hợp với từng ngành, từng thị trường nghiên cứu là cần thiết, sự hài lòng của khách hàng được giải thích bởi nhiều yếu tố khách nhau ngoài chất lượng dịch vụ. Giá cả là yếu tố rất nhạy cảm với khách hàng và có ảnh hưởng đáng kể về sự hài lòng của khách hàng    

Các bài có thể xem thêm:

Quy trình cho vay tín dụng

các biện pháp an toàn điện

sql server agent là gì

chiến lược marketing

tiếp thị thông minh

Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng

Cấp TD là chức năng kinh tế cơ bản của NH. Rủi ro trong NH có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra.

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [5].

 

Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng
Định nghĩa rủi ro tín dụng và cách phân loại rủi ro tín dụng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viết luận văn thuê ở tphcm

dịch vụ viết chuyên đề

Khái niệm rủi ro tín dụng là gì?

Nói chung, có khá nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng quy chung lại có thể rút ra một số nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

– Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, có nghĩa là người vay bị trễ hẹn hoặc không thanh toán.

– Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những tổn thất tài chính đối với ngân hàng, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc thậm chí phá sản.

– Rủi ro trong hoạt động tín dụng là khách quan nên người ta không thể loại trừ hẳn chúng mà chỉ có thể hạn chế rủi ro và giữ chúng ở một mức độ chấp nhận được.

Phân loại rủi ro tín dụng:

Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại rủi ro tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu.

– Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, việc phân chia rủi ro tín dụng được thể hiện như sau

+ Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ:

  •         Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
  • Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
  •         Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

     + Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

  •         Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
  • Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

– Rủi ro tín dụng còn có thể được chia thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro.

+ Rủi ro khách quan: Là rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch họa, người vay bị tai nạn, chết, mất tích …

+ Rủi ro chủ quan: Là rủi ro được tạo ra do chủ quan của bên vay hoặc bên cho vay vì vô tình hay cố ý, ví dụ như: bên vay sử dụng vốn không đúng mục đích gây thất thoát vốn, hay rủi ro phát sinh do tiêu cực từ phía cán bộ ngân hàng…

Các bài có thể xem thêm:

Quy trình cho vay tín dụng

an ninh mạng máy tính là gì

các biện pháp an toàn điện

chiến lược marketing

Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng

1. Khái niệm tín dụng tiêu dùng:

TD tiêu dùng là các khoản cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình, như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế, du lịch …

              Phân loại TD tiêu dùng: Người ta có thể phân loại TD tiêu dùng với nhiều tiêu thức khác nhau như trong TD sản xuất. Tuy nhiên ở góc độ nghiệp vụ và tính phổ biến của nó người ta có thể phân chia TD tiêu dùng thành tín dụng trực tiếp và gián tiếp – xuất phát từ việc NHTM thể hiện những khoản cho vay tiêu dùng trực tiếp với khách hàng xin vay tại NH, hoặc dưới hình thức gián tiếp bằng cách mua các phiếu bán hàng trả góp từ những người bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tiêu dùng.

Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là gì? Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

nhận làm luận văn tốt nghiệp

dịch vụ làm thuê chuyên đề

2. Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng:

Nhìn chung, tín dụng tiêu dùng có những đặc điểm như sau:

– Đối tượng của tín dụng tiêu dùng là các nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình tùy thuộc vào tình hình tài chính của họ mà có những mức độ khác nhau. Ở những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu giao dịch tạo ra sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập trung bình, nhu cầu về tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh, do có ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng hơn là dùng khoản tiền dự phòng của mình, hoặc là không tiết chế nhu cầu tiêu thụ của mình, mà lao vào những chi tiêu có tích cách phô trương hoặc thời trang vượt qua khả năng thu nhập của chính họ. Ở những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập cao, nhu cầu tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán, hoặc là một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu, nhất là khi vốn của họ nằm trong tài khoản đầu tư dài hạn, xét về số tuyệt đối, nhu cầu ở nhóm người nầy thường lớn.

        – Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình do vậy, nguồn trả nợ của khoản vay tiêu dùng thường không phải là kết quả của việc sử dụng vốn vay mà là từ tiền lương, từ lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nhìn chung đây là hình thức cho vay mà các Ngân hàng vẫn đang chú trọng vì những lợi ích mà nó mang lại.

        – Nhu cầu vay tiêu dùng của KH hầu như ít co giãn với lãi suất. Thông thường, người đi vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.

        – Nguy cơ rủi ro tín dụng tiêu dùng cao hơn các loại tín dụng khác, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, lạm phát, thất nghiệp gia tăng… ảnh hưởng đến thu nhập của người dân.

– Là hình thức bán lẻ, giá trị của các khoản vay thường nhỏ, số lượng món vay lớn dẫn đến chi phí khoản vay cao. Do vậy, lãi suất khoản vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các khoản vay thương mại.

3. Các ngân hàng nào sẽ đồng ý cho vay tiêu dùng?

Hiện tại hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam đều có sản phẩm tín dụng cho vay tiêu dùng với khách hàng cá nhân như :  vay tín chấp Prudential, vay vốn ngân hàng Agribank, vay vôn ngân hàng Vietcombank, vay vốn ngân hàng BIDV hoặc vay vốn ngân hàng Saccombank. Ngoài ra, các ngân hàng như TpBank, PvcomBank , VietinBank, ACB cũng có những sản phẩm tín dụng ưu đãi cho khách hàng vay tiêu dùng.

4. Các loại cho vay tiêu dùng là gì

+ Cho vay tiêu dùng trả góp

+ Cho vay tiêu dùng phi trả góp

+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn

+ Cho vay tiêu dùng cư trú

+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú

+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp

+ Cho vay tiêu dùng gián tiệp

 

Các bài có thể xem thêm:

các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

an toàn giao thông là gì

rủi ro tín dụng

khái niệm tín dụng ngân hàng

Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng

Tín dụng xuất phát từ gốc chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm, tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam có nghĩa là quan hệ vay mượn.

Nhìn một cách tổng quát: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”.

Trong hoạt động Ngân hàng, cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ xuyên suốt cùng với nghiệp vụ nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán. “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó,” Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [12]

Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng
Khái niệm và cách phân loại tín dụng ngân hàng

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viet luan van

dịch vụ làm chuyên đề

Tín dụng ngân hàng là gì

Tín dụng NH là hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định thông qua các nghiệp vụ NH.

Tín dụng NH là hình thức TD chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế. Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống NH. Tín dụng NH là hình thức TD chuyên nghiệp, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú.

Phân loại tín dụng ngân hàng

Trong thực tế khi đề cập đến tín dụng ngân hàng, thường chỉ xem xét trên giác độ ngân hàng là người cho vay. Nếu xem xét ngân hàng dưới gốc độ là người cấp tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể được chia thành những loại sau đây:

– Căn cứ vào mục đích tín dụng:

+ TD sản xuất kinh doanh: NH cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ,…

+ TD tiêu dùng: Phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân như: mua sắm, trang trải các chi phí trong đời sống, cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng…

– Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

+ TD ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn tối đa đến 12 tháng, nhằm phục vụ nhu cầu vốn lưu động sản xuất kinh doanh và chi tiêu ngắn hạn.

        + TD trung hạn: Là loại cho vay của NH với thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.

        + TD dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm nhằm tài trợ cho việc mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng … phục vụ sản xuất kinh doanh.

– Căn cứ vào bảo đảm của tín dụng:

        + TD không đảm bảo bằng tài sản: Ngân hàng cho vay dựa trên cơ sở uy tín, tín nhiệm bản thân khách hàng vay.

        + TD có đảm bảo: Vốn vay được đảm bảo bằng tài sản của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

        – Căn cứ vào hình thức vốn tín dụng:

        + TD bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tiền.

        + TD bằng tài sản: Là loại cho vay mà hình thức vốn tín dụng được ngân hàng cung cấp bằng tài sản, ví dụ như tín dụng thuê mua.

        – Căn cứ vào phương pháp hoàn trả:

        + TD trả góp: KH vay phải hoàn trả dần vốn gốc và lãi theo định kỳ.

        + TD phi trả góp: KH vay phải hoàn trả toàn bộ vốn một lần khi đáo hạn.

        + TD hoàn trả theo yêu cầu: Là loại cho vay của ngân hàng mà việc thu nợ được thực hiện theo yêu cầu hoàn trả của người đi vay trên cở sở khả năng của người đi vay và trong thời hạn hợp đồng đã thỏa thuận.

        – Căn cứ vào tính chất hoàn trả:

        + TD hoàn trả trực tiếp: Ngân hàng cho vay và việc hoàn trả được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay.

        + TD hoàn trả gián tiếp: Việc trả nợ không được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay mà gián tiếp thông qua người thụ lệnh của người đi vay.

Các bài  có thể xem thêmcác biện pháp an toàn điện , msconfig là gìcổng console là gìan toàn lao động là gìan toàn điện là gì

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1. Hiệu quả về tài chính

* Chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận

Khi xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp, ngư­ời ta thường quan tâm trư­ớc hết tới lợi nhuận. Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối, là mục tiêu và là thước đo chủ yếu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

làm luận văn

thuê viết chuyên đề

Chỉ tiêu lợi nhuận

Chỉ tiêu này được tính toán theo công thức:

              P = D – (Z +TH + TT)

Trong đó:   P: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong 1 kì kinh doanh

                  D: Doanh thu tiêu thụ trong 1 kì kinh doanh

                      Z: Giá thành sản phẩm trong 1 kì kinh doanh

                      TH: Các loại thuế phải nộp sau mỗi kì

                   TT: Các loại tổn thất sau mỗi kì kinh doanh

Khi lợi nhuận càng lớn thì doanh nghiệp làm ăn càng có lãi. Tuy nhiên bản thân chỉ tiêu lợi nhuận chưa biểu hiện đầy đủ hiệu quả kinh doanh. Bởi lẽ ch­a biết đại  lượng ấy được tạo ra từ nguồn lực nào và do đó phải so sánh kết quả ấy với chi phí tương ứng để tìm đư­ợc mối t­ơng quan của kết quả và hoạt động tạo ra kết quả đó. Trong hoạt động sản xuất ở một doanh nghiệp liên doanh cũng như các hoạt động kinh doanh của các công ty khác người ta so sánh với chi phí và vốn kinh doanh với doanh thu để phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh doanh.

        Ngoài ra, chỉ tiêu doanh thu khi so sánh giữa các kỳ hay các năm với nhau cũng là tiêu chí phản ánh hiệu quả kinh doanh của đơn vị.

Tỉ suất lợi nhuận: người ta th­ường hay sử dụng chỉ tiêu doanh lợi để biểu hiện mối quan hệ lợi nhuận và chi phí kinh doanh thực tế hoặc lợi nhuận với nguồn tài chính (vốn kinh doanh) để tạo ra nó đồng thời cũng thể hiện trình độ, năng lực kinh doanh của nhà nhà kinh doanh trong việc sử dụng các yếu tố đó.

– Tỉ suất lợi nhuận theo doanh thu

Đại l­ượng này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thu đ­ợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.

2.Hiệu quả kinh tế – xã hội

Hiệu quả kinh tế – xã hội (hiệu quả kinh tế quốc dân) là sự đóng góp của chính doanh nghiệp vào xã hội nghĩa là mang lại các lợi ích công cộng cho xã hội như­: tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngân sách, tăng tích lũy ngoại tệ, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế …

Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội (hiệu quả kinh tế quốc dân) có mối quan hệ nhân quả với nhau và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt đư­ợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp nh­ một tế bào của nền kinh tế hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần vào hiệu quả chung của nền kinh tế. Ng­ược lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho mọi hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa bộ phận và toàn bộ. Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ  tính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và nền kinh tế vận hành tốt là môi tr­ờng thuận lợi cho sự hoàn thiện của doanh nghiệp.

Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thư­ờng xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo đảm lợi ích riêng hài hoà với lợi ích chung. Về phía cơ quan quản lí với vai trò định hướng cho sự phát triên của nền kinh tế cần tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể của mình.

Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế – xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau:

  • Tăng thu ngân sách

Mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm vụ nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức là các loại thuế như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt… Nhà nước sẽ sử dụng những khoản thu

này để cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và lĩnh vực phi sản xuất, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân.

  • Tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động

Nước ta cũng giống như các nước đang phát triển, hầu hết là các nước nghèo tình trạng kém về kỹ thuật sản xuất và nạn thất nghiệp còn phổ biến. Để tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo lạc hậu đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

  • Nâng cao đời sống người lao động

Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi các doanh nghiệp làm ăn phải có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sống của người lao động. Xét trên phương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua chỉ tiêu như gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăng trưởng phúc lợi xã hội…

  • Tái phân phối lợi tức xã hội

Sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng, các lãnh thổ trong một nước yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức xã hội nhằm giảm sự chênh lệch về mặt kinh tế giữa các vùng. Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện nay, hiệu quả kinh tế xã hội còn thể hiện qua các chỉ tiêu: Bảo vệ nguồn lợi môi trường, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế…

Các bài có thể xem thêm: khái niệm hiệu quả kinh doanhtín dụng ngân hàng là gìtín dụng tiêu dùng là gìHƯỚNG DẪN VIẾT TIỂU LUẬN TỔNG QUANTIỀU LUẬN VÀ LUẬN VĂN

Khái niệm hiệu quả kinh doanh và vai trò của nó trong nền kinh tế

Hiệu quả kinh doanh là gì?

Trong cơ chế thị tr­ường­ hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều một mục tiêu chung là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để đạt đ­ược mức lợi nhuận cao, các doanh nghiệp cần phải hợp lí hoá quá trình sản xuất – kinh doanh từ khâu lựa chọn các yếu tố đầu vào, thực hiện quá trình sản xuất cung ứng, tiêu thụ. Mức độ hợp lí hóa của quá trình đ­ược phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản được gọi là: Hiệu quả kinh doanh.
Hiện nay, cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ hiệu quả kinh doanh xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự hình thành phát triển của nghành quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngư­ời ta có thể chia các quan điểm thành các nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm thứ nhất cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu đư­ợc trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa.
Nhóm thứ hai cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí.
Nhóm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một đại l­ượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu đư­ợc kết quả đó.
Nhóm thứ tư cho rằng: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện đ­ược mối quan hệ giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất.

Như­ vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lí của doanh nghiệp để thực hiện cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần được xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lượng, không gian và thời gian.Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh doanh những nỗ lực của doanh nghiệp và phản ánh trình độ quản lí của doanh gnhiệp đồng thời gắn với việc đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của toàn xã hội về kinh tế, chính trị và xã hội. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh là biểu thị tư­ơng quan giữa kết quả mà doanh nghiệp thu được với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh chỉ có được khi kết quả cao hơn chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngư­ợc lại. Cả hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, trong đó hiệu quả về lư­ợng phải gắn với mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường nhất định. Do vậy chúng ta không thể chấp nhận việc các nhà kinh tế tìm mọi cách để đạt đư­ợc mục tiêu kinh tế cho dù phải chi phí bất cứ giá nào hoặc thậm chí đánh đổi mục tiêu chính trị, xã hội, môi trư­ờng để đạt được mục tiêu kinh tế.
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lí nói chung để đáp ứng các nhu cầu xã hội và đạt đư­ợc các mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định. Hiệu quả kinh doanh biểu thị mối tương quan giữa kết quả mà doanh gnhiệp đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt đư­ợc kết quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó trong những điều kiện nhất định.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

viết luận văn thạc sĩ thuê

nhận viết thuê chuyên đề

Vai trò của hiệu quả kinh doanh

Ðối với nền kinh tế quốc dân: Hiệu quả của nền kinh tế quốc dân phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh cá biệt của các doanh nghiệp. Nếu hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp được nâng cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo sự tăng truởng kinh tế, nâng cao mức sống xã hội, giữ vững trật tự an ninh xã hội.
Ðối với doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, được tối đa hoá và nó phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, trình độ công nghệ, quản lý vốn và nguồn lực của doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Khi có hiệu quả của doanh nghiệp mới có khả năng tái đầu tư để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất hoạt động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Ðối với người lao động: Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại cho nguời lao động công việc và thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần, điều kiện và môi trường làm việc của người lao động ngày càng được cải thiện, nâng cao. Mặt khác khi người lao động yên tâm, gắn bó với doanh nghiệp thì họ sẽ toàn tâm toàn ý với công việc, khi đó năng suất lao động sẽ tăng lên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Các bài viết có thể xem thêm:

chỉ tiêu đánh quá hiệu quả kinh doanh

phân loại tín dụng ngân hàng

rủi ro tín dụng là gì

Khái niệm cho vay