Lời mở đầu luận văn Marketing dịch vụ trường tiểu học Quốc tế Á Châu

Lời mở đầu luận văn marketing

Khi nền kinh tế càng ngày càng phát triển, công cuộc đầu tư cho giáo dục ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Hệ thống các trường công lập, dân lập và tư thục mọc lên ngày càng nhiều, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của các bậc phụ huynh. Ngành giáo dục Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước ta hết mực quan tâm nhằm đầu tư xây dựng một đội ngũ lao động trẻ kỹ năng cao cho đất nước.

Hiện nay, hệ thống các trường quốc tế rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những khu vực có nền kinh tế phát triển mạnh của đất nước, người dân có thu nhập cao nên nhu cầu cho giáo dục cũng tăng mạnh. Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện tại có hơn 35 trường quốc tế với các chương trình giáo dục từ nước ngoài như Anh, Hoa Kỳ, Úc,…Hệ thống các trường quốc tế này cung cấp một chương trình học hiện đại, giúp học sinh nâng cao khả năng bản thân, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ (Anh văn) đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các bậc phụ huynh. Chính vì vậy mà nhóm lựa cho hệ thống trường quốc tế làm đề tài nghiên cứu. Với đề tài “ Phân tích marketing dịch vụ của trường tiểu học quốc tế Á Châu” nhằm phân tích các sâu các dịch vụ của hệ thống trường tiểu học quốc tế Á Châu, từ đó đưa ra các nhận xét, góp ý và đề xuất cho hoạt động marketing dịch vụ của trường.

Trong quá trình thực hiện đề tài cũng gặp phải rất nhiều vấn đề khó khăn trong việc thu thập và phân tích các dữ liệu nên một số nhận xét còn mang tính chủ quan cá nhân của nhóm.

Tổng quan hệ thống trường quốc tế

Mô hình trường quốc tế xuất hiện ở Việt Nam cũng khá lâu, tuy nhiên “quốc tế” ở đây được hiểu theo hai nghĩa đó là trường có vốn đầu tư 100% là vốn nước ngoài học sinh được giảng dạy các chương trình quốc tế bên cạnh đó học sinh có thể được giảng dạy thêm một số môn bằng tiếng Việt dạy theo chương trình của Bộ GD-ĐT. Thứ hai là hệ thống trường tư thục đạt tiêu chuẩn quốc tế liên kết, hợp tác với một số trường quốc tế, đại học quốc tế, giảng dạy theo chương trình được thiết kế chuẩn với chương trình của các trường liên kết đó, ngoài ra học sinh còn được học thêm các môn bằng tiếng Việt dạy theo chương trình của Bộ GD-ĐT.

Các trường đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và thực hiện giáo dục chất lượng theo đúng nghĩa thì học sinh được đào tạo khá chất lượng ví dụ như: mỗi lớp học của các trường quốc tế đều không quá 20 học sinh được thụ hưởng một môi trường học tập và sinh hoạt khá hiện đại, tiện nghi. Cũng trong môi trường học tập đó, học sinh đóng vai trò trung tâm, còn giáo viên với giáo án linh hoạt, sinh động sẽ là người khơi gợi, khuyến khích sự tư duy, trí tưởng tượng giúp các em tự đưa ra ý kiến và cùng nhau thảo luận, phát huy khả năng “tư duy độc lập có phê phán”, chứ không chỉ dừng lại ở mục đích lấp đầy kiến thức…Bên cạnh đó, những giờ ngoại khóa với hình thức khá phong phú như dã ngoại, lễ hội… tạo cho các em sự vui nhộn, hưng phấn và sự tự tin vào bản thân. Để khép kín mô hình giáo dục quốc tế này, các trường quốc tế này còn xây dựng hệ thống trường trung học, đại học riêng của mình hoặc liên kết trực tiếp với các trường đạt chuẩn khác nhằm đẩy mạnh, tạo điều kiện giáo dục tốt cho học sinh.

Bên cạnh đó, tạo uy tín cho thương hiệu, các trường không chỉ khẳng định mình từ chương trình đào tạo mà còn chăm sóc bữa ăn, giấc ngủ, sinh hoạt, phương tiện đi lại cho mỗi học sinh. Ví dụ: Trường tiểu học dân lập Quốc tế đã thiết lập bếp ăn riêng cho toàn bộ hệ thống với đội ngũ đầu bếp đủ thành phần gồm bếp Á, bếp Âu… Chuyên gia dinh dưỡng của trường sẽ xây dựng thực đơn hợp khẩu vị, kích thích ăn uống và được kiểm soát chặt chẽ về an toàn thực phẩm từ khâu nguyên liệu, chế biến cho đến phục vụ. Hoặc trương VAS thuê hẳn ê-kíp nấu ăn nước ngoài phục vụ, trường đã ký hợp đồng với tập đoàn P. Dussmann (Đức) cung cấp bữa ăn cho học sinh. Tập đoàn này cam kết đảm bảo vệ sinh cho học sinh từ thức ăn cho đến môi trường học tập.

Chi phí theo học các trường này được coi là khá đắt đỏ khoảng từ 20 triệu đồng đến 80 triệu đồng một năm, chỉ phù hợp với những bậc phụ huynh có thu nhập cao nhưng nó lại đang dần thích ứng trong xu thế hiện nay. Nó thực sự có nhiều điểm khác biệt với những trường công, kiến thức được tiếp thu cùng với vốn sống ở môi trường mới sẽ giúp học sinh sớm tự tin, vững bước hòa nhập khi sinh sống học tập tại nước ngoài.

Tuy nhiên ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số trường quốc tế vẫn chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng theo đúng nghĩa, giáo viên chưa thực sự có chuyện môn cao, cơ sở vật chất của trường chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra, chương trình học tập của học sinh còn khá nặng do vậy ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giáo dục học sinh, không phù hợp với chi phí phụ huynh bỏ ra.

Xem thêm:

Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp tập thể

Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp tập thể

1 Kinh tế tập thể và doanh nghiệp tập thể

1.1 Kinh tế tập thể.

Kinh tế tập thể được hiểu là cách tô chức sản xuất kinh doanh của các thành viên trong xã hội nhằm đạt được một mục tiêu sản xuất kinh doanh nhất định bằng cách liên kết, phối hợp, cộng tác với nhau theo các cấp độ khác nhau tùy thuộc ý chí của các thành viên sáng lập.

Cấp độ đơn giản nhất là các tổ hợp tác. Tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân. không có điều lệ. Và mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động, quyền và nghĩa vụ của nó được điều chỉnh bởi Luật dân sự.

Khi tổ hợp tác hội tụ đủ các điều kiện, đạt trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh chặt chẽ và theo nhu câu của các thành viên thì tô hợp tác có thê tiên hành thành lập doanh nghiệp.

Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp tập thể
Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp tập thể

1.2 Doanh nghiệp tập thể

Doanh nghiệp tập thê về bản chất nó là một hình thức kinh tế tập thể nhưng mức độ, tính chất,nội dung của sự hợp tác, liên kết ở trình độ cao.

Chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm về doanh nghiệp tập thể kỹ hơn ở một hình thức doanh nghiệp tập thê điên hình là hợp tác xã.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2 Hợp tác xã – hình thức doanh nghiệp tập thể điển hình

2.1 Khái niệm hợp tác xã

Điều I của Luật hợp tác xã Việt Nam năm 1996 quy định về khái niệm Hợp tác xã như sau: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vấn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phân phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

2.2 Các đặc điểm của hợp tác xã

– Hợp tác xã trước hết là một tổ chức kinh tế. nó được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Lợi nhuận là mục tiêu quan trọng nhất trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như tất cả mọi loại hình doanh nghiệp khác.

– Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ. Điều 5 trong Luật hợp tác xã khẳng định: Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hợp tác xã, không can thiệp vào việc quản lý và hoạt động hợp pháp của hợp tác xã.

Tính tự chủ của hợp tác xã thể hiện ở chỗ nó là doanh nghiệp tự hạch toán, có đủ điều kiện của một tổ chức được công nhận là pháp nhân. Hợp tác xã khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là hợp tác xã có tư cách pháp nhân.

– Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao. Hợp tác xã khác với các loại hình doanh nghiệp khác là ở chỗ những thành viên tham gia hợp tác xã thể hiện sự hợp tác có tính chất toàn diện: cùng góp vốn, góp sức (trực tiếp tham gia hoạt động) và cùng, có nhu câu, lợi ích. Trong khi đó sự hợp tác trong công ty trách nhiệm hữu hạn đơn thuần là sự góp vốn, công ty cô phần là đóng góp cổ phần, còn các thành viên không nhất thiết phải trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ.

2.3 Vai trò của hợp tác xã trong nên kinh tế nước ta hiện nay

Hợp tác xã là loại hình doanh nghiệp tập thê không chỉ phổ biến ở nước ta, trên thế giới, hợp tác xã cũng là một vấn đề được quan tâm vì đây là hình thức doanh nghiệp tập thê của những người lao động mang tính xã hội cao.

Ở Việt Nam, hợp tác xã giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước. Vì loại hình¡hợp tác xã đáp ứng được nhu câu của những người lao động đơn lẻ, nghèo và tích lũy chưa được nhiều nên chưa có cơ hội làm ăn phát triển; những cá nhân kinh doanh có nhu cầu hợp tác làm ăn một cách chặt chẽ với nhau trên tính thần tương trợ giúp đỡ để vượt qua những khó khăn, cùng nhau tốn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.

Tham khảo thêm:

Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

Thủ tục thành lập, quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp nhà nước

Khái niệm Marketing qua giá trị chi phí và sự thoả mãn khách hàng

Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.

Bài viết chia sẻ khái niệm Marketing thông qua khái niệm cốt lõi của giá trị chi phí và sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng.

Giá trị chi phí và sự thoả mãn

Trong số rất nhiều những sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nhất định, người tiêu dùng sẽ lựa chọn như thế nào? Giả sử, hàng ngày một người phải đi làm xa 3 dặm. Có một số sản phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu này: patanh, xe đạp, xe gắn máy, ô tô, taxi và xe buýt. Những phương án này tạo nên một tập khả năng lựa chọn sản phẩm. Giả sử người đó muốn thoả mãn một số nhu cầu phụ thêm trên đường đi làm, cụ thể là tốc độ, an toàn, thoải mái và tiết kiệm. Ta gọi đó là tập nhu cầu. Bây giờ thì mỗi sản phẩm có một khả năng khác nhau để thoả mãn những nhu cầu khác nhau của người đó. Chẳng hạn như xe đạp thì chậm hơn, kém an toàn và tốn sức hơn là ô tô, nhưng lại tiết kiệm hơn. Dù thế nào đi nữa thì người đó cũng phải quyết định sản phẩm nào sẽ đảm bảo thoả mãn nhu cầu đầy đủ nhất.

Khái niệm chủ đạo là giá trị đối với khách hàng. Người đó sẽ đánh giá khả năng của từng sản phẩm thoả mãn tập nhu cầu của mình. Anh ta có thể xếp hạng các sản phẩm từ loại thoả mãn nhiều nhu cầu nhất đến đến loại thoả mãn ít nhu cầu nhất. Giá trị là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm thoả mãn những nhu cầu của mình.

Ta có thể yêu cầu anh ta hình dung những đặc điểm của một sản phẩm lý tưởng đối với những nhiệm vụ đó. Anh ta có thể trả lời rằng sản phẩm lý tưởng sẽ đưa anh ta đến chỗ làm trong giây lát với sự an toàn tuyêt đối, không mất sức và chi phí bằng không. Khi đó giá trị của mỗi sản phẩm thực tế sẽ phụ thuộc vào mức độ nó gần với sản phẩm lý tưởng đó.

Giả sử rằng anh ta quan tâm hàng đầu đến tốc độ và sự thoải mái khi đi làm. Nếu anh ta được sử dụng miễn phí bất kỳ sản phẩm nào trong số đó, thì ta có thể đoán trước được là anh ta sẽ chọn ô tô. Nhưng bây giờ mới nảy sinh vướng mắc: chi phí để mua ô tô lớn hơn nhiều so với chi phí để mua một chiếc xe đạp, do đó anh ta sẽ phải từ bỏ nhiều thứ khác (có giá trị) để mua ô tô. Vì thế anh ta sẽ xem xét giá trị và giá cả của sản phẩm trước khi anh ta chọn. Anh ta sẽ chọn sản phẩm nào tạo ra giá trị lớn nhất trên một đồng USD.

Các nhà nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng ngày nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của những giả thuyết kinh tế về cách thức người tiêu dùng xét đoán giá trị và lựa chọn sản phẩm.

Xem thêm:

Chiến lược marketing lan truyền – Viral Marketing là gì?

Ngày nay chiến lược Viral Marketing hay còn gọi là chiến lược marketing lan truyền đã là thuật ngữ không còn xa lạ gì với con người. Nhưng để hiểu rõ hơn về viral marketing thì vẫn còn nhiều người hoang mang, không trả lời được.

Vậy để hiểu rõ hơn về Viral marketing (chiến lược marketing lan truyền) các bạn đọc bài này sẽ hiểu rõ hơn nhé.

Chiến lược marketing lan truyền – Viral Marketing là gì?

Marketing lan truyền là phương pháp marketing tập trung vào việc tạo ra nội dung có khả năng lan truyền theo cấp số nhân bằng cách thu hút nhiều người chia sẻ và lan tỏa nội dung đó ra cộng đồng.

Ngày 25/6/2017 tại Hội thảo Hiểu đúng về chiến lược marketing lan truyền và thực tế áp dụng tại Việt Nam. ThS. Thái Phúc Gia Hưng – nhà sáng lập Cộng đồng Marketing lan truyền Việt Nam ViralContentsAZ đã nêu rõ điều cốt yếu của marketing lan truyền là tạo cảm hứng để mọi người chuyền nhau thông điệp của sản phẩm, dịch vụ.

“Ước tính, một chiến dịch marketing lan truyền thành công có thể có hiệu quả gấp 500 – 1.000 lần so với chiến dịch không dùng phương thức lan truyền”, ông Hưng chia sẻ tại Hội thảo Hiểu đúng về marketing lan truyền và thực tế áp dụng tại Việt Nam.

Tập trung vào khách hàng mục tiêu

So với phương pháp marketing truyền thống, chiến lược marketing lan truyền có ưu điểm dễ tiếp cận nhiều người hơn nhờ vào nội dung thông minh, có sức thu hút.Hình thức lan truyền có thể đến từ các:

  • video clip
  • game flash tương tác
  • game quảng cáo (advergame)
  • ebook
  • phần mềm tùy biến thương hiệu (brandable software)
  • hình ảnh
  • tin nhắn văn bản
  • email
  • website
  • các sự kiện hoặc cuộc thi gây chú ý.
  • …v..v….

Một chiến dịch marketing lan truyền được xem là thành công khi tạo cho người xem cảm giác thích thú mà thông điệp đưa ra và sau đó lan truyền chúng một cách vô thức thông qua việc gửi đường dẫn, đăng blog…

“Người xem có thể khen, chê, hưởng ứng hoặc phẫn nộ với thông điệp. Điều quan trọng là chúng phải tiếp cận được càng nhiều người càng tốt, nhờ đó mức độ nhận biết thương hiệu của khách hàng càng được gia tăng“, ông Hưng chia sẻ.

Tuy nhiên, chính vì phát triển mạnh mẽ mà loại hình marketing này cũng xuất hiện những “biến tướng”, trong đó phải kể đến những nội dung phản cảm, làm méo mó hình ảnh thương hiệu. ThS. Phí Văn Anh – giảng viên bộ môn marketing, Trường Đại học FPT Polytechnic phân tích, suy cho cùng, marketing lan truyền cũng chỉ là công cụ để truyền thông cho sản phẩm, dịch vụ.

Và nhiệm vụ của người làm marketing là truyền thông đúng với cam kết thương hiệu. “Người tiêu dùng rất thông minh. Bạn có thể dùng “chiêu trò” marketing để thu hút khách hàng trong thời gian đầu, nhưng một khi phát hiện ra nội dung quảng cáo sai sự thật, họ sẽ quay lưng với sản phẩm của bạn ngay”, ông Anh khuyến cáo. Chưa kể, những nội dung quảng cáo có tính dễ dãi thường chỉ thu hút sự tò mò của những người xem nhỏ tuổi và ít nhận được sự quan tâm từ khách hàng mục tiêu.

Việc xuất hiện những “biến tướng” trên cũng cho thấy có không ít doanh nghiệp hiện nay chưa hiểu đúng về hình thức marketing này. Dù việc đưa ra nội dung gây sốc, phản cảm dễ thu hút sự chú ý của cộng đồng nhưng “nó giống như mì ăn liền, ăn riết đâm ra ngán, và cũng chỉ thoảng qua trong khoảng thời gian ngắn”, ông Anh ví von. Do đó, để lan truyền thông điệp hiệu quả, hình thức marketing được sử dụng cần nhất quán với sản phẩm. “Ban đầu, chúng có thể hơi “lép vế” so với những cách làm biến tướng kia, nhưng về lâu dài sẽ đi vào trái tim của người tiêu dùng và dễ dàng thuyết phục được họ”, ông Anh nói.

Có 5 hình thức lan truyền trong chiến lược marketing lan truyền

Hiện có 5 hình thức lan truyền được sử dụng phổ biến, gồm: chuyển tiếp (tin nhắn chuyển cho nhau thường đặt cuối email), tin đồn truyền miệng (người nổi tiếng nói về sản phẩm, dịch vụ thường với mục đích cố ý gây tranh cãi), lan truyền có thưởng (kêu gọi cộng đồng chia sẻ để nhận thưởng), quảng cáo bất ngờ (người xem bất ngờ vì nội dung quảng cáo), lan truyền tự phát (người dùng tự kêu gọi nhau tham gia trào lưu, tuyên truyền).

Nguyên lý 80/20 trong chiến lược marketing lan truyền

Người làm marketing giỏi luôn nắm được tâm lý của khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng, từ đó đưa ra thông điệp thích hợp. Theo ông Hưng, một trong những phương pháp marketing dễ tiếp cận khách hàng Việt Nam nhất hiện nay là cung cấp những giá trị hữu ích và ưu tiên giải quyết vấn đề của họ.

Bên cạnh đó, người Việt Nam vốn có nhu cầu giải trí khá cao, do đó doanh nghiệp nên đáp ứng nhu cầu giải trí của khách hàng, sau đó mới tìm cách giải quyết vấn đề của họ và bán sản phẩm. “Một thông điệp marketing nên dành 80% nội dung phục vụ cho mục đích giải trí, 20% còn lại nói về thương hiệu phục vụ cho việc bán hàng”, ông Hưng nói.

Đồng quan điểm và minh họa cho điều này, ông Anh cho biết, hiện có không ít nhãn hàng, thương hiệu “ẩn nấp” trong lời bài hát, giai điệu có sức lan tỏa mạnh.

Đơn cử, thương hiệu Bitis đã khéo léo lồng vào video clip Lạc trôi hình ảnh đôi giày Bitis Hunters, đồng thời cố tình tua nhanh khung ảnh ca sĩ Sơn Tùng mang đôi giày đó. Lẽ dĩ nhiên, điều này không qua mắt được người hâm mộ.

“Đây là một dạng marketing lan truyền mà Bitis đã thực hiện thành công khi đưa hình ảnh sản phẩm vào nội dung giải trí và cố tình “úp mở” tên thương hiệu khiến người xem tò mò, từ đó sớm tạo ra làn sóng lan truyền”, ông Anh nhận định.

Tuy nhiên, âm nhạc chỉ là một trong 6 yếu tố nâng đỡ giúp tăng tính hấp dẫn cho nội dung lan truyền. Việc tránh đề cập thương hiệu cũng là một cách làm “khôn ngoan” giúp khách hàng không thấy chán ghét hoặc thẳng tay chặn quảng cáo. Ngoài ra, hình thức tạo ra những thử thách (xối nước đá, ăn mì cay, hít đất 22 cái…) cũng tạo nên sự lan truyền tự phát mạnh mẽ.

Việt Nam hiện là một trong những quốc gia năng động nhất khu vực Đông Nam Á với tổng số người sử dụng internet ước tính gần 50 triệu người. Đây là một trong những thuận lợi cho việc phát triển lĩnh vực marketing kỹ thuật số thông qua nội dung, nhưng cũng là thách thức đối với người làm marketing lan truyền. Do vậy, doanh nghiệp cần chú trọng truyền tải những thông điệp có ý nghĩa, đồng thời phục vụ nhu cầu giải trí của người xem, nhưng quan trọng nhất vẫn là tạo ra sản phẩm đủ tốt.

Xem thêm:

Phân tích các chủ thể trong Luật kinh tế

Phân tích các chủ thể trong Luật kinh tế

Luật kinh tế có hệ thống chủ thể riêng bao gồm các tô chức hay cá nhân có đủ điều kiện đề tham gia vào những quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh.

Điều kiện đề trở thành chủ thê luật kinh tế:

1/ Đối với tổ chức

– Phải được thành lập một cách hợp pháp.

Tức là nó phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyệt định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc được thừa nhận trên cơ sở tuân thủ các thủ tục do luật định, được tổ chức dưới những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng theo các quy định của pháp luật (theo dấu hiệu này thì chủ thê luật kinh tế chính là các cơ quan quản lý kinh tế, các doanh nghiệp, các tô chức xã hội).

– Phải có tài sản riêng.

Tài sản là cơ sở vật chất không thê thiếu được đề các tô chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản đối với bên kia. Dấu hiệu này đặc biệt quan trọng đối với các chủ thê kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Một tổ chức được coi là có tài sản khi tô chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hay với các tô chức khác đồng thời phải có quyền năng nhất định đề chỉ phối khối lượng tài sản đó và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó(đó là quyền sở hữu, quyền quản lý tài sản).

Phân tích các chủ thể trong Luật kinh tế
Phân tích các chủ thể trong Luật kinh tế

– Phải có thâm quyền kinh tế.

Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ về, kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận. Mỗi một chủ thể luật kinh tế có thâm quyên kinh tế cụ thể ứng với chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của nó. Thấm quyền kinh tế chính là giới hạn pháp lý mà trong đó chủ thể luật kinh tế được hành động, phải hành động hoặc không được phép hành động. Như vậy thâm quyền kinh tế trở thành cơ sở pháp lý để các chủ thê luật kinh tế thực hiện các hành vi pháp lý nhăm tạo ra các quyên và nghĩa vụ cụ thê cho mình. Thâm quyên kinh tê một phân được quy định trong các văn bản pháp luật, một phần do chính quyết định của bản thân chủ thể (VD thông qua điều lệ, nghị quyết hay kế hoạch.)

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2/ Đối với cá nhân

– Phải có năng lực hành vi dân sự.

Có nghĩa là cá nhân đó phải có khả năng nhận biết được hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi ấy. Theo luật pháp của chúng ta thì người vừa đủ 18 tuôi trở lên và không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình.

– Có giấy phép kinh doanh.

Người muốn kinh doanh phải có đơn xin phép kinh doanh để được câp giây phép kinh doanh. Và chỉ sau khi được cập giây phép người kinh doanh mới được phép kinh doanh. Khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, cá nhân sẽ tham gia vào các quan hệ do luật kinh tê điêu chỉnh và họ trở thành chủ thê luật kinh tê.

Với các điều kiện trên chủ thể luật kinh tế bao gồm:

– Các cơ quan quản lý kinh tế. Đây là những cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện chức năng quản lý kinh tê.

– Các đơn vị có chức năng sản xuất-kinh doanh, trong đó gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cả cá nhân được phép kinh doanh. Chủ thể thường xuyên và chủ yêu nhất của luật kinh tế vẫn là các doanh nghiệp bởi vì trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường của nước ta, các doanh nghiệp được thành lập với mục đích chủ yêu là tiến hành các hoạt động kinh doanh.

– Ngoài ra luật kinh tế còn có một loại chủ thể không thường xuyên, đó chính là những cơ quan hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và những tô chức xã hội. Những tô chức này không phải là cơ quan quản lý kinh tế và cũng không có chức năng kinh doanh nhưng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của mình có thể phải tham gia vào một số quan hệ hợp đồng kinh tê với một số các doanh nghiệp khác. VD: hợp đồng khám sức khỏe cho công nhân, hợp đồng đảo tạo cán bộ cho một nhà máy…

Tham khảo thêm:

+ Những nguyên tắc của Luật kinh tế

+ Vai trò cơ bản của Luật kinh tế

Đề cương luận văn Marketing cho hoạt động kinh doanh

Bài viết chia sẻ đề cương luận văn marketing cho hoạt động kinh doanh cho sinh viên tham khảo.

CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG DU LỊCH LỮ HÀNH VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ GIẢI PHÁP MARKETING

1.1. THỊ TRƯỜNG DU LỊCH LỮ HÀNH

1.1.1. Quy mô của thị trường du lịch lữ hành

1.1.2. Sự cần thiết, vai trò của hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành và việc tiêu dùng của du khách

1.1.3. Tình hình cạnh tranh trên trên thị trường du lịch lữ hành

1.1.4. Đặc trưng của cầu trên thị trường du lịch

1.1.5. Các chức năng chi phối cầu của thị trường du lịch

1.1.6. Phân đoạn thị trường du lịch

1.2. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG MAKETING

1.2.1. Chính sách giá của từng tour du lịch

1.2.2. Chính sách khai trương quảng cáo các tour du lịch

1.2.3. Các dịch vụ đi kèm

1.2.4. Các loại Tour du lịch và đặc trưng của mỗi loại

1.2.5. Các chính sách hỗ trợ

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG KINH DOANH DU LỊCH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI – ĐÔNG NAM Á

2.1. SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI – ĐÔNG NAM Á

2.1.1. Sự ra đời và phát triển

2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, phạm vi kinh doanh

2.1.3. Cơ cấu tổ chức và điều hành của công ty

2.1.4. Thực trạng hoạt động kinh doanh

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG KINH DOANH DU LỊCH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ THƯƠNG MẠI ĐÔNG NAM Á

2.2.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường

2.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu

2.2.3. Một số đặc điểm của công ty ảnh hưởng đến hoạt động Marketing của công ty

2.2.4. Thực trạng Marketing-mix của công ty

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH LỮ HÀNH

2.3.1. Những thành tựu của công ty

2.3.2. Một số tồn tại của công ty

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP MARKETING CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU

3.1.1. Phương pháp nghiên cứu thị trường

3.1.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu

3.2. VỀ CÁC CHÍNH SÁCH

3.2.1. Về chính sách sản phẩm

3.2.2. Về quá trình dịch vụ

3.2.3 Xác định chi phí dịch vụ cho các chương trình du lịch

3.2.4. Chính sách phân phối

3.2.5. Về chính sách giao tiếp dịch vụ

3.2.6. Về đội ngũ con người

LỜI KẾT

Xem thêm:

Mục tiêu của giáo dục mần non và giáo dục phổ thông là gì?

Mục tiêu của giáo dục mần non và giáo dục phổ thông là gì?

1 Mục tiêu tổng quát của giáo dục

Mục tiêu tổng quát có thể hiểu đồng nghĩa với mục đích giáo dục và được quy định tại Điều 2 Luật GD sửa đổi bổ sung năm 2009: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.

Mục tiêu của giáo dục mần non và giáo dục phổ thông là gì?
Mục tiêu của giáo dục mần non và giáo dục phổ thông là gì?

2. Mục tiêu cụ thể của giáo dục:

– Mục tiêu GD mầm non:

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

– Mục tiêu của giáo dục phổ thông

1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

3. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

– Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp

Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.

– Mục tiêu của giáo dục đại học

1. Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo.

3. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.

4. Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.

5. Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn

– Mục tiêu GD thường xuyên

Giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục,học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển GD thường xuyên, thực hiện GD cho mọi người, xây dựng xã hội học tập.

Tham khảo thêm: 

Bản chất của “Quản lý sự thay đổi” trong quản lý giáo dục

Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục

Khái niệm và đặc trưng của công ty trách nhiệm hữu hạn

1. Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn

a. Công ty TNHH 1 thành viên: Giống DNTN

b. Công ty TNHH 2 thành viên trở lên (truyền thống):

 Khái niệm: Là mô hình công ty mà theo đó số lượng thành viên công ty ít nhất là 2, nhiều nhất là 50. Các thành viên sở hữu vốn điều lệ theo %.

Công ty có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh.

2. Công ty TNHH 2 thành viên trở lên:

a. Đặc trưng của mô hình:

– Thành viên: giới hạn từ 2 đến 50, có thể là cá nhân hoặc tổ chức (phải có người đại diện)

 cho thấy tính chất đổi nhân của công ty (vì đối vốn thì sẽ không có giới hạn)

Nếu một trong hai thành viên chết hoặc rút vốn thì sẽ: cưỡng bức giải thể hoặc chuyển đổi pháp lý công ty (chuyển đổi mô hình công ty)

– Tư cách pháp nhân: Công ty có tư cách pháp nhân kể từ khi có đăng ký kdoanh.

– Trách nhiệm tài sản: Công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trong phạm vi tài sản của công ty. Các thành viên chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty (khác DNTN)

– Nghiêm cấm rút vốn trực tiếp từì công ty: Nếu muốn chủ sở hữu có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần quyền tài sản hoặc bán cho người khác.

Nếu xảy ra tình trạng trực tiếp rút vốn người rút vốn phải mang tài sản cá nhân của mình liên đới với công ty trả nợ (giống DNTN)

– Trong quá trình hoạt động công ty, những chi phí do mục đích cá nhân của chủ sở hữu công ty phải tách với phi phí cho mục đích công ty.

– Không được phát hành cổ phiếu (công ty đóng đặc thù)

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật doanh nghiệp của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

b. Vốn điều lệ:

 Các thành viên sở hữu vốn điều lệ theo tỷ lệ %

+ Từ đó xác định quyền và nghĩa vụ với công ty.

+ Nghĩa vụ góp vốn của thành viên: (khác với công ty CP là trong 90 ngày phải thanh toán tiền) các thành viên tự do thỏa thuận cam kết góp vốn chung (có thể góp vốn theo lộ trình và các thành viên phải tuân theo thỏa thuận đó)

+ Nếu người góp vốn vi phạm thì:

 Khai trừ

Coi phần vốn chưa góp là một khoản nợ với công ty (tính lãi)

Bồi thường thiệt hai do chậm góp

 Mất quyền góp vốn

 Tăng giảm vốn điều lệ

– Tăng vốn điều lệ:

+ Tiếp nhận thành viên mới (số lượng thành viên từ 2 đến 50)

+ Gọi thêm vốn từ các thành viên vốn có (được góp thêm phần vồn tương ứng với phần vốn đã góp)

+ Điều chỉnh tài sản công ty tương ứng sự tăng giá trị của các tài sản đó

– Giảm vốn điều lệ:

+ Chấm dứt tư cách thành viên (hoàn viên)

+ Mua lại phần vốn góp (theo tỉ lệ %)

+ Điều chỉnh tài sản công ty tương ứng sự sụt giảm.

 Chuyển nhượng phần vốn góp

– Một thành viên nào đó của công ty, nếu muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho một người không phải thành viên công ty trước tiên thành viên đó phải chào bán phần vốn góp của mình cho các thành viên còn lại trong công ty theo tỷ lệ % vốn góp mà các thành viên đó có trong công ty và cùng các điều kiện chuyển nhượng (giá cả, phương thức,…) như nhau.

– Trong trường hợp các thành viên còn lại không muốn mua hoặc mua không hết thì được phép chuyển nhượng cho các thành viên ngoài công ty.

 thể hiện sự đóng của công ty (cơ hội cho người ngoài vào công ty rất khó khăn)

(yếu tố đối nhân)

 Tiếp nhận và chấm dứt tư cách thành viên

– Tiếp nhận thành viên mới: thành viên đó phải được sự chấp thuận của mọi thành viên còn lại trong công ty với tỷ lệ biểu quyết là 100%

– Chấm dứt tư cách thành viên:

+ Xin rút

+ Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (bỏ phiếu phủ quyết một nghị quyết của công ty)

+ Chuyển nhượng phần vốn góp của mình. Nếu công ty không mua thì thành viên đó có thể chuyển nhượng cho bất kỳ ai không có điều kiện ràng buộc.

+ Thành viên chết hoặc bị tuyên bố chết, người thừa kế trở thành thành viên công ty.

+ Thành viên sử dụng phần vốn của mình để trả nợ thì chủ nợ KHÔNG phải là thành viên công ty.

+ Tặng, cho:

 Người nhận trong phạm vi huyết thống 3 đời hoặc quan hệ nuôi dưỡng, hôn nhân: sẽ là thành viên công ty.

 Người nhận khác: tư cách thành viên chỉ có sự chập thuận của các thành viên còn lại

c. Quản lí điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn

 Mô hình 2 thành viên:

Hội đồng thành viên (Cơ quan có quyền cao nhất, gồm mọi thành viên góp vốn)

Ban Giám đốc (Tổng giám đốc, giám đốc và các thành viên khác do điều lệ công ty quy định)

 Mô hình 11 thành viên trở lên:

Hội đồng thành viên

Ban Giám đốc

Ban kiểm soát (hoàn toàn do công ty quy định, không có luật)

 Người đại diện theo pháp luật

Do điều lệ công ty quy định (có thể là chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc, tổng giám đốc,…)

– Mô hình 1 thành viên:

+ Nếu một thành viên là 1 tổ chức: phải có người đại diện (người đó sẽ là chủ tịch công ty) hoặc gồm nhiều thành viên được cử làm đại diện.

+ Nếu một thành viên là 1 cá nhân: cá nhân đó sẽ là chủ tịch công ty

Xem thêm:

Luật doanh nghiệp định nghĩa công ty cổ phần như thế nào?

Luật kinh tế định nghĩa Công ty hợp danh là gì?

Các công cụ tiếp thị truyền thông hỗn hợp được sử dụng

Khái niệm và đặc trưng của công ty trách nhiệm hữu hạn

Marcom là gì?

Marcom là từ được viết tắt của Marketing Communications, mang ý nghĩa là tiếp thị truyền thông. Marcom được dùng với mục đích tạo ra sự tương tác của thương hiệu với khách hàng tiềm năng. Việc tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng được thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông nhiều qua nhiều kênh như mạng xã hội, gửi thư trực tiếp, roadshow thu hút… để cung cấp cho họ những sản phẩm truyền thông.

Các công cụ tiếp thị truyền thông hỗn hợp được sử dụng

1. Quảng cáo

Đây là phương thức trả tiền, gián tiếp được các công ty sử dụng để thông báo cho khách hàng về hàng hóa và dịch vụ của họ thông qua truyền hình, đài phát thanh, phương tiện truyền thông in ấn, trang web trực tuyến… Quảng cáo là một trong những phương pháp kết hợp thông tin được sử dụng rộng rãi nhất. sản phẩm và dịch vụ của công ty có thể truyền đạt dễ dàng với phạm vi phủ sóng đối tượng mục tiêu lớn.

2. Khuyến mại

Khuyến mại bao gồm một số ưu đãi ngắn hạn để thuyết phục khách hàng bắt đầu mua hàng hóa và dịch vụ. Kỹ thuật xúc tiến này không chỉ giúp duy trì khách hàng hiện tại mà còn thu hút những khách hàng mới với những lợi ích bổ sung. Tiền lãi, chiết khấu, hoàn trả, mua một tặng một… là một chương trình hữu ích giúp xúc tiến doanh thu bán hàng.

3. Tổ chức sự kiện và trải nghiệm

Một số công ty tài trợ cho các sự kiện như thể thao, giải trí, phi lợi nhuận hoặc sự kiện cộng đồng với ý định củng cố thương hiệu của họ trong tâm trí khách hàng và tạo mối liên hệ lâu dài với họ.

Tên của công ty tài trợ cho sự kiện có thể được nhìn thấy trên áo của người chơi, danh hiệu, giải thưởng trong các chương trình giải trí, tích trữ trên sân khấu…

4. Quan hệ công chúng

Các công ty thực hiện một số hoạt động xã hội nhằm tạo ra hình ảnh thương hiệu tích cực của họ trên thị trường. Các hoạt động mà các công ty đang thực hiện, xây dựng các tiện ích công cộng, quyên góp một phần mua hàng của họ cho giáo dục trẻ em, tổ chức trại hiến máu, trồng cây, vv là một số động thái chung để tăng cường quan hệ công chúng. Ngoài ra, với sự phát triển nhanh chóng của Internet, quan hệ công chúng cũng có thể hiểu là nhờ bên thứ ba giới thiệu về sản phẩm và dịch vụ của thương hiệu. Việc bên thứ ba phát biểu tiếng nói sẽ khiến khán giả thêm niềm tin vào thương hiệu, từ đó doanh thu sẽ ra tăng đáng kể hơn.

5. Tiếp thị trực tiếp

Với mục đích công nghệ, các công ty sử dụng email, fax, điện thoại di động, để liên lạc trực tiếp với khách hàng tiềm năng mà không liên quan đến bất kỳ bên thứ ba nào ở giữa.

Kết luận

Trên đây là định nghĩa về tiếp thị truyền thông và các công cụ tiếp thị truyền thông hỗn hợp được sử dụng ngày nay để đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Mong các bạn nắm vững để áp dụng vào thương hiệu hiệu quả.

Xem thêm:

Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ

Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ

Dự họp Đại hội cổ đông là quyền của cổ đông, bất kể là cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn. Hội đồng quản trị CTCP không được viện dẫn lý do Điều lệ công ty quy định mức cổ phần đang nắm giữ của cổ đông để hạn chế triệu tập dự họp Đại hội cổ đông. Việc quy định bất kỳ mức tổi thiểu nào cũng vi phạm quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 79 của Luật DN. Do đó, việc đầu tiên là các CTCP phải sửa đổi Điều lệ công ty cho phù hợp với quy định của Luật DN. Các Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh phải thể hiện trách nhiệm của mình khi xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh hoặc hồ sơ thay đổi nội dung Bản điều lệ; đối với các Công ty đại chúng, Ủy ban Chứng khoán nhà nước yêu cầu các CTCP đảm bảo quyền lợi cho tất cả các cổ đông và có các kiến nghị cần thiết đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Một số công ty cho rằng đã thông qua ý kiến của các cổ đông khi áp dụng mức cổ phần tối thiểu, nhưng mọi thoả thuận trái với quy định của pháp luật đều không có giá trị pháp lý.

Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ

Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ
Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ

Khi các CTCP thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thì quyền lợi của cổ đông nhỏ cũng chưa được thể hiện rõ nét trên thực tế. Bởi CTCP là công ty đối vốn, quyền quyết định thuộc cổ đông hoặc nhóm cổ đông có vốn chiếm tỷ lệ cao. Cổ đông góp vốn nhiều, chịu nhiều rủi ro thì đương nhiên họ sẽ được hưởng nhiều quyền lợi hơn. Đây là quy định hợp lý cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tế nhưng phải có biện pháp bảo vệ quyền của cổ đông nhỏ trong CTCP. Vấn đề này, theo TS Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách kinh tế vĩ mô (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương), các cổ đông có thể tập hợp nhau lại thành Câu lạc bộ của nhà đầu tư thiểu số, nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, cùng nhau góp tiếng nói chung, nâng cao sức mạnh của mình12.

Xem thêm:

Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ trong Luật Hình Sự

Các nội dung hoàn thiện pháp luật về quyền dự họp của cổ đông nhỏ

Tỷ lệ cổ phần/cổ phiếu của nhóm cổ đông thể hiện sức mạnh của mình là từ 10% trở lên. Với tỷ lệ này, nhóm cổ đông sẽ có các quyền quy định tại khoản 2, Điều 79, Luật DN:

– Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có);

– Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;

– Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

– Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết.

– Và các quyền khác do điều lệ công ty quy định.

Nếu tỷ lệ cổ phần của nhóm cổ đông đạt hơn 20% tổng số cổ phần trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng, nhóm cổ đông còn có thể thực hiện các quyền quyết định quan trọng hơn nữa, có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với CTCP lâm vào tình trạng phá sản.

Chúng ta đã đề cập phần đầu, với tỷ lệ vốn góp 10% để có các quyền tại khoản 2, Điều 79, Luật DN là khá cao. Trong thời gian tới, Luật DN nên được sửa đổi, điều chỉnh tỷ lệ này xuống còn 5%, vừa phù hợp với thực tế nguồn vốn điều lệ của các CTCP hiện nay, vừa tương đồng với quy định của Luật Chứng khoán ban hành năm 2007.

Quyền dự họp Đại hội cổ đông của cổ đông nhỏ phải được đảm bảo bằng những biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp tư pháp. Bộ luật Tố tụng dân sự 2003 quy định: Cổ đông có quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét, huỷ bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp: (1) Trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; (2) Trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty13. Cổ đông nhỏ sẽ khởi kiện đến Toà án có thẩm quyền nếu Hội đồng quản trị không triệu tập họ dự họp. Nhưng các cơ quan có thẩm quyền phải hướng dẫn cụ thể để Các cơ quan tiến hành tố tụng thực thi quyền của cổ đông nhỏ.

Các cổ đông nhỏ tham gia CTCP với vốn góp ít phải nghiên cứu kỹ càng về công ty, Bản điều lệ công ty và xác định mục đích của mình (cổ tức và lãi vốn chẳng hạn). Cổ đông nhỏ được luật pháp trao cho quyền nhất định để tự bảo vệ mình, nhưng cũng đừng quên quyền chỉ giới hạn trong số vốn góp.

Tóm lại, khi chúng ta có những cơ chế đảm bảo quyền dự họp Đại hội cổ đông của cổ đông nhỏ là chúng ta bước đầu thực hiện quyền của họ. Bởi quyền dự họp Đại hội cổ đông là nền tảng để cổ đông nhỏ thực hiện các quyền khác của mình. Nhưng thực tế, quyền dự họp đang trở thành vấn đề nóng bỏng do các CTCP đang vi phạm. Thiết nghĩ, chúng ta cần chấn chỉnh lại việc thực thi Luật DN, sau đó phải có định hướng cho các cổ đông nhỏ biết liên kết, tự bảo vệ quyền của mình. Cuối cùng, quyền đó phải được bảo đảm từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật. Như thế, môi trường kinh doanh của Việt Nam chắc chắn sẽ được cải thiện trong thời gian tới.

Trên đây là những kiến thức liên quan đến Luật học, luật kinh tế. Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình viết luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ luật học hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được tư vấn tốt nhất.

Xem thêm: http://dichvuluanvan.eklablog.com/cac-noi-dung-hoan-thien-phap-luat-ve-quyen-du-hop-cua-co-dong-nho-a148801758